Nhìn lại chặng đường 70 năm xây dựng và phát triển. Qua 70 năm hình thành, xây dựng và phát triển, Trường THPT Phan Châu Trinh là ngôi trường giàu truyền thống và là một trong những cơ sở giáo dục phổ thông uy tín hàng đầu, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng Chorus:Từng chặng đường dài nhưng ta qua, tiếng ngồi một mình lại thấy nhớNgày ngày khía cạnh trời rạng ngời vươn cao lên từ bên trên mái nhàTừng chặng đường dài nhưng ta qua phần đông để lại kỉ niệm quý giáĐể lại một điều rằng càng đi xa ta càng thêm nhớ nhà Nhìn lại chặng đường đã qua, mới thấy cả 3 chàng trai đã cố gắng và nỗ lực nhiều đến vậy. Mong rằng trong tương lai, TFBOYS sẽ ngày càng thành công hơn nữa, mang đến những tác phẩm tuyệt vời cả về âm nhạc lẫn điện ảnh. Hãy tiếp tục theo dõi BlogAnChoi để cập Chim Sẻ Đi Nắng khẳng định chắc chắn vị thế độc tôn của mình trong năm qua với vô số những danh hiệu, trong khi đó BiBi với những cố gắng và khát khao để tìm lại ánh hào quang của chính mình. Hãy cùng chúng tôi nhìn lại chặng đường một năm qua của 2 game thủ có tài năng bậc nhất nền AoE Việt Nam thời 8/8/2017 là ngày đặc biệt, đánh dấu sự trưởng thành của TH&CL sau 5 năm hình thành và phát triển. 5 năm cũng là mốc thời gian gắn liền với hoạt động báo chí của tôi. 5 năm đã đi qua, một chặng đường đủ dài cho sự nỗ lực của tôi, của cả một tập thể, đủ để Nhìn lại chặng đường đã qua! (Dân trí) - Premiership đã đi được hơn nửa chặng đường. Dù chưa thật hoàn chỉnh nhưng những dự đoán cho phần còn lại của mùa giải không phải là quá khó đoán khi cục diện của giải đấu đã có sự phân cách khá rõ ràng. Sau khi vắt kiệt o9FN6. II Những lựa chọn căn bản Nguyễn Văn Trung “… Ở cái thời độc tài, bạo động chia rẽ vì ai cũng cho mình nắm được chân lý toàn diện, thiết tưởng cần đề cao sự hoài nghi, phản kháng và gặp gỡ, trao đổi, đối thoại…” Trong cuộc đời cầm bút của tôi gần 50 năm, đặc biệt thời kỳ 1955-1975, tôi đã viết khá nhiều, nhưng bị phê bình, đả kích, mạ lỵ, mạt sát cũng khá nhiều. Có lẽ tôi thuộc số ít nhà cầm bút ở miền Nam là kẻ bị cáo trạng nhiều hơn cả, từ tất cả các bên, các giới xã hội, chính trị, tôn giáo trong một tình cảnh VN bị phân chia thành hai miền thù địch chiến tranh và riêng miền Nam có phân hoá đố kỵ giữa các phe phái, giới nhóm với nhau. Tôi còn giữ được hầu hết sách báo phê bình đả kích tôi, góp lại thành một tập trên 500 trang mang tựa đề Người cầm bút, kẻ bị cáo». Tôi nghĩ rằng việc sắp xếp theo thời gian và bên cạnh nhau những bài đả kích tố cáo cá nhân tôi sẽ giúp người đọc nhận ra được tình cảnh chia rẽ, đố kỵ, oán thù không đội trời chung giữa những tập thể gọi nhau là đồng bào của một nước Việt Nam mến yêu có 4000 năm văn hiến; vì thực ra người ta tố cáo tôi chính là để tố cáo tập thể thù địch với người ta mà lại đem gán ghép cho tôi đấy thôi. Chẳng hạn có người lên án tôi là người chống Cộng tinh vi hay ngược lại tôi là người Cộng Sản, thân Cộng, có những lời nói hành động có lợi cho Cộng Sàn. Tôi là người Công giáo, bị người đồng đạo tố cáo, vu khống mạ lỵ là kẻ rối đạo, phản đạo, hoặc thân Cộng, Cộng Sàn. Hầu hết chỉ là những lời cáo gian, vì người ta chỉ nghe tin đồn, dư luận, ngay cả trong giới giáo sĩ, giáo phẩm, những người theo một đạo có giới răn rõ rệt về tội vu vạ, cáo gian, cấm xét đoán như lời Chúa dạy đừng xét đoán để khỏi bị phán xét»; nhưng đối với người không Công giáo, Cộng Sản và nhất là những người Phật giáo lại không tách tôi rời khỏi giới Công giáo, thậm chí coi tôi mới là người Công giáo đích danh, nên dễ nhìn những gì tôi viết liên quan đến Phật giáo đều mang tính chất xuyên tạc, đả kích nhằm tiêu diệt Phật giáo. Như vậy, xét con người trước dư luận, tôi không thể tự nhận diện được tôi là ai! Nhưng ở đây, trong ý định nhìn lại những chặng đường đã đi qua, nghĩa là những gì tôi viết liên quan đến các giới Việt Nam, tôi không phiền trách tố cáo lại ai, để phân trần tự biện minh, mà chỉ cố gắng tìm hiểu phần trách nhiệm của tôi đã gây ra mọi sự do chính những lựa chọn căn bản có ý thức của tôi và nhất là do những lệch lạc hay thiếu sót đã không thực hiện đúng, đầy đủ của những lựa chọn đó. 1. Lựa chọn về và ở lại Việt Nam Tôi nghĩ rằng nếu tôi có lo lắng, làm gì cho đất nước VN thì tôi phải sống ở VN trong bất cứ hoàn cảnh nào, dưới bất cứ chế độ chính trị xã hội nào vì đó là thời đại của tôi, tôi không có thái độ nào khác để lựa chọn và vì chỉ có một nước VN, một giáo hội VN ở tại VN. Xin nói ngay đây là một thái độ lựa chọn riêng của tôi và tôi tôn trọng những lựa chọn khác vì mỗi người có quyền lựa cho mình một lối sống, nơi sống mà mình cho là thích hợp hơn cả với hoàn cảnh riêng của mình. Năm 1955, tôi từ Âu châu về Saigon. Hồi 1967, nhiều giáo sư phái đoàn đại học Mỹ sang VN có đề nghị tôi sang Mỹ dạy đại học và sẽ lo chỗ ăn ở cho cả gia đình. Tôi không nhận. Hồi 1975, nếu tôi muốn, tôi cũng có điều kiện để đi Mỹ. Không những tôi không đi mà còn khuyến cáo họ hàng nội ngoại không đi. Đây là một đánh giá tình hình rất sai lầm mà tôi ân hận, vì sau mấy năm, họ hàng và cả con tôi có đứa quyết tâm ra đi vượt biên. Vào những năm 1990, bạn bè về VN, qua những trao đổi và xem những bài viết của tôi chưa xuất bản, đã nói thẳng thừng cho tôi thấy là tôi lạc hậu về nhận thức vì đã bị cắt đứt với các trào lưu tư tưởng thế giới sau 15 năm. Tôi định đi Âu châu một chuyến mấy tháng để có dịp tiếp xúc lại. Nhưng chuyến đi không thành. Cuối 1993, trách nhiệm làm cha mẹ buộc tôi phải đi theo diện bảo lãnh vì mấy đứa con quyết tâm đi sẽ không đi được nếu không theo cha mẹ, nhưng cũng có đứa quyết tâm ở lại. Khi tôi báo tin cho những bạn bè là ân nhân như một linh mục Dòng Tên, mà tôi đã quen qua những chuyến đi thăm những trại tị nạn dọc theo bức màn sắt phân chia nước Đức đã nuôi sống gia đình tôi bằng những colis thuốc mẫu để tôi khỏi phải mánh mung, hoặc những người đã can thiệp đưa tôi ra khỏi tù, tất cả đều không tán thành, coi việc ra đi của tôi như một đào ngũ, bỏ cuộc. Họ chỉ an tâm khi tôi cho họ biết đó chỉ là ra đi tạm thời vì tôi không bán nhà, và chỉ đi đi về về cho đến khi các cháu nội ngoại khôn lớn không cần ông bà chăm sóc nữa. Chính nhờ đi đi về về mà tôi hiểu được VN không có năm thực tế mà chỉ có một. Ngoài ra, trong thời gian ở nước ngoài, tôi có dịp tham gia những sinh hoạt của những trí thức bản xứ, nhóm khuynh tả tranh đấu xã hội đã cho tôi nhận ra những kiến thức thu lượm được và những dấn thân cụ thể vào các hoạt động tranh đãu xã hội thật cần thiết, ích lợi cho VN trong tình cảnh gọi là toàn cầu hoá hiện nay như tôi đã bày tỏ trong bài Toàn cầu hoá VN», đăng trong tạp chí Đi Tới, Montreal, Canada, số 10/1996 và đăng lại trong Nhận Định 10. Dĩ nhiên, những lựa chọn kể trên của tôi không tránh khỏi những hiểu lầm, dị nghị. 2. Lựa chọn văn chương dấn thân, triết học xuống đường Tôi đã có thể chỉ cầm bút biên khảo văn học, triết học không dính dáng gì tới ai, theo đúng tinh thần nghiên cứu truyền thống của giới đại học; và tôi đã có thể xuất bản những bộ sách biên khảo đồ sộ về một số vấn đề nào đó. Người đọc có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng chắc chắn không có chuyện mạt sát mạ lỵ. Nhưng thay vì làm biên khảo thuần tuý, tôi đã đưa văn chương triết lý vào thời cuộc,vào đời sống hằng ngày thậm chí liên quan đến chuyện làm tình, hay những cái thừa thãi của thân xác như đờm, giãi, nước miếng, nước tiểu… Trong một tình hình văn hoá còn bị những áp lực nặng nề của những lối sống rập khuôn conformisme về đạo lý xã hội, và trong một hoàn cảnh đất nước đang có chiến tranh ý thức hệ giữa hai miền Nam Bắc, những tranh chấp đố kỵ ở miền Nam giữa các phe nhóm chính trị, tôn giáo, nên những gì đã xảy đến cho tôi là không thể tránh được và do đó tôi phải nhận lãnh thôi. Tôi là người của một tạp chí nghiên cứu, không phải theo kiểu hàn lâm viện, đại học, chỉ bàn những vấn đề muôn thuở, không dính dáng gì đến thời cuộc, nhưng là nghiên cứu gắn bó với thời cuộc, ngay cả khi đề cập đến những vấn đề thuộc lịch sử cũng nhằm phục vụ những mục tiêu hiện tại. Tôi có khả năng qui tụ một số người để làm một tạp chí. Chúng tôi chỉ cần đồng ý với nhau về một thái độ trí thức, một hướng chung trong tinh thần tôn trọng những lựa chọn dấn thân cụ thể về chính trị của mỗi người. Trong Văn học miền Nam -tổng quan, nhà xuất bản Văn Nghệ ở Hoa Kỳ, Võ Phiến lấy lại một ý của Nguyên Sa, cho rằng mảng văn học miền Nam trước 1975 có thể gồm 4 khối lớn nhóm Sáng Tạo của Mai Thảo, nhóm Đất Nước của Nguyễn Văn Trung, nhóm Bách Khoa của Võ Phiến và nhóm thứ tư gồm những nhà văn độc lập Sđd, trang 192. Quả là khối» Nguyễn Văn Trung có một tầm ảnh hưởng lớn. Cái ảnh hưởng ấy bắt đầu từ trước tờ Đất Nước ngay từ thời tờ Đại Học mặc dù Nguyễn Văn Trung không phải là chủ nhiệm tờ báo nầy chủ nhiệm là Cao Văn Luận. Tờ Đại Học tiếp tục xuất bản cho tới năm 1964 nhưng nó đã mất sức thu hút từ khi Nguyễn Văn Trung rời Huế vào Saigon nhiều năm trước Sđd, trang 199. Lối nhìn của Võ Phiến quá đơn giản, không phản ảnh đầy đủ, trung thực với thực tế và sử dụng những từ như nhóm, khối có thể gây hiểu lầm theo nghĩa bè phái. Ngoài ra, Võ Phiến không nhắc đến tờ Hành Trình chỉ ra có 10 số và không giấy phép, gọi là báo lậu, in ronéo, nhưng gây ra nhiều sóng gió, phản ứng tức thời từ nhiều phía ở miền Nam và cả ở miền Bắc và ở nước ngoài. 3. Lựa chọn viết tiếng Việt Đây là một lựa chọn mà ngay từ buổi đầu cầm bút, tôi đã coi là đương nhiên. Trong thời gian du học, tôi viết bài đăng trong các báo sinh viên và khi ở Bỉ, chúng tôi đã ra tạp chí Cùng học không phải chỉ để liên lạc mà còn nhằm trình bày những vấn đề chuyên môn. Chúng tôi thuộc thế hệ sinh ra trong thời thuộc địa, học tiếng Pháp và phải đọc tất cả bằng tiếng Pháp, nhưng nhận thấy người Việt mình không phải dùng tiếng Pháp để nói với nhau, ngay cả những vấn đề tư tương khoa học như sinh viên các nước Phi châu gồm nhiều thổ dân, thổ ngữ, không có tiếng nói chung nên buộc phải dùng chữ viết của nước thống trị để diễn tả. Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm đô hộ Tàu, hàng trăm năm đô hộ Tây. Có hàng trăm miền đất đã bị đồng hoá, trừ Giao Chỉ vẫn còn là một nước riêng. Về văn hoá, thật khó có thể xác định được cái gì là VN, không phải là Tàu, Tây. Trước 75 và sau 75, tôi đã dự nhiều hội thảo về đi tìm bản sắc dân tộc, về truyền thống VN, ai cũng đồng ý cần tìm hiểu để xác định, bảo vệ, nhưng cụ thể là gì thì chẳng ai đồng ý với ai. Tuy nhiên, có một sự thật hiển nhiên xác định sự khác biệt là tiếng nói VN và trải qua lịch sử, người Việt vẫn giữ được tiếng nói riêng của mình. Đó là một thành tích lớn lao hơn cả. Về nước, tôi không tán thành chủ trương dùng tiếng Pháp ở Đại học Saigon. Vào năm 1957 Đại học Huế được thành lập, kêu gọi đường lối giảng dạy bằng tiếng Việt, không phải chỉ ở các ban Văn khoa, Luật khoa, mà cả ở ban Khoa học và Y khoa. Lúc đó tôi chưa nghĩ đến vấn đề phê phán các thể chế đại học, mà chỉ chú ý đến việc giảng dạy bằng tiếng Việt, tôi đáp lại lời kêu gọi của Đại học Huế. Như vậy, Đại học Huế đã nói với Đại học Saigon có thể dạy bằng tiếng Việt ở các ngành Toán, Khoa học tự nhiên, và nói với Đại học Hanôi, không phải chỉ có miền Bắc mới dùng tiếng Việt để giảng dạy ở đại học. Để củng cố phát huy những cố gắng diễn tả các ngành trên đại học bằng tiếng Việt, Viện Đại học Huế cho ra tạp chí và nhà xuất bản Đại Học. Mùa hè, họ tổ chức những đại học hè ở Đà Lạt cho sinh viên cả ba viện và giáo sư của họ tham dự. Về nhân sự, Đại học Huế gồm vỏn vẹn vài người độ 26-27 tuổi, vừa du học về, cấp bậc thấp nhất trong ngành đại học giảng nghiệm viên, phụ khảo cộng với một số học giả địa phương tất cả chỉ là một dúm nhỏ. Nhưng Đại học Huế là nơi gây cảm hứng, qui tụ những giáo sư, học giả ở Saigon và cả ở nước ngoài về giảng dạy hay gửi bài, bản thảo về đăng báo, in sách… Sau 1955, miền Nam vẫn giữ lề lối giáo dục theo Pháp nên cấp trung học có dạy Triết ở lớp cuối cùng, còn trên đại học thì có ban Triết học ở Văn Khoa và Sư Phạm, một phần nhằm đào tạo giáo sư Triết ở trung học. Mặc dù học theo chương trình Việt, nhưng không vì thế mà coi thường sinh ngữ. Nói chung sinh viên vào thời kỳ nầy đều có thể đọc sách báo bằng tiếng Pháp, Anh và cả tiếng Đức, xem như là một điều kiện bó buộc để tham khảo làm luận án. Do đó có những giáo sư viết sách triết học, giới thiệu các trào lưu, tác giả triết học Tây phương. Chẳng hạn Trần Thái Đỉnh ra sách Triết học hiện sinh, và theo Tràng Thiên bút hiệu của Võ Phiến, nhà xuất bản Thời Mới đã bán hết 2500 cuốn, vào thời điểm gọi là cao trào của hiện sinh Bách Khoa, số 289, 15/11/1969, trang 39. Trần Văn Toàn viết Tìm hiểu triết học Karl Marx, và theo Trịnh Viết Đức, phụ trách nhà xuất bản Nam Sơn, cuốn sách in 3000 quyển đã bán hết và phải tái bản 3000 cuốn cũng bán gần hết. Theo chỗ tôi biết, có lẽ có một vài bài điểm sách như tôi đã viết về cuốn của Trần Thái Đỉnh, nhưng không có ai phê bình, đả kích gì. Tôi cũng có nói đến hiện sinh, Marx, nhưng nếu tôi đừng ra khỏi giảng đường, vượt qua ngưỡng cửa đại học, đem triết học xuống đường, thì chắc chắn không bị những mũi dùi của thứ ngôn ngữ vỉa hè, thứ văn chương ngoài đường phố xuyên tạc, mạ lỵ, chửi bậy. Cuốn Ca tụng thân xác không bán chạy bằng Tìm hiểu triết học Karl Marx, nhưng được biết nhiều hơn ngoài giới đại học và độc giả có học. Thiệt ra lối đặt tựa như trên dễ bị hiểu lầm, nhưng người đọc đứng đắn vẫn nhận ra cách viết, quan niệm của tác giả là đưa triết học vào văn hoá VN, cố gắng dùng những từ ngữ VN để diễn đạt những khái niệm triết học phương Tây, nhằm đặt những vấn đề liên quan đến đời sống cụ thể hằng ngày của người đọc và tình cảnh thời đại của họ, như ông Tam Điểm bút hiệu của Nguyễn Tử Lộc, tốt nghiệp ĐHSP, giáo sư Trung học và đã viết một bài dài hơn 20 trang về Ca tụng thân xác đăng trong tạp chí Sinh viên và Nghiên Cứu Văn Học số 1, tháng 11/1967. Tam Điểm viết như sau Ca tụng thân xác của Nguyễn Văn Trung ngay sau khi xuất bản đã bị luồng dư luận báo chí công kích. Mũi dùi dựa vào tính chất khiêu dâm của tác phẩm, những đoạn văn nho nhỏ được trích dẫn để tố cáo tính cách tục ở ngòi bút của một giáo sư đại học có tiếng. Tác phẩm đối với quần chúng được biết và có khi chỉ được đọc trong ý hướng đó của dư luận mà thôi… Viết bài nầy, chúng tôi không đặt câu hỏi Ca tụng thân xác có khiêu dâm hay không hoặc luân lý của người viết cuốn sách đó là gì. Cũng không phải để binh vực hay kết án nó trong dự định của mình. Chúng tôi chỉ xét vấn đề cuốn sách nêu ra một vấn đề thật quan hệ cũng như giài pháp cho vấn đề mà ông Nguyễn Văn Trung đem lại có ý nghĩa gì trong hoàn cảnh xã hội hiện tại; trong phần đó tính chất khiêu dâm và phương pháp hiện tượng luận cũng sẽ được đề cập tới…. Trầm trọng hơn nữa, không phải người ta chỉ tố cáo viết văn khiêu dâm mà còn bới móc đời tư, tố cáo tư cách trí thức, đạo đức của người cầm bút nhằm tố cáo thái độ chính trị nào đó mà họ gán cho tác giả. Bây giờ nhìn lại, tôi nhận ra rằng giả sử, thay vì viết tiếng Việt, tôi viết tiếng Pháp, thì dù cho tư cách tôi có thật sự bê bối, tôi cũng không thể là đối tượng của thứ chủ nghĩa văn chương hạ cấp, vì trong khuôn khổ văn hoá của nhiều nước phương Tây như nước Pháp, người tự hạ xuống viết thứ văn chương chữ nghĩa hạ cấp, chính là tự tố cáo và tự sát về văn hoá. Ngoài ra công luận xã hội cũng không chấp nhận những người viết thứ văn chương hạ cấp vì tự trọng của tập thể cộng đồng quốc gia. Cho nên dù đời tư của ra sao đi nữa, những người thù ghét lập trường chính trị của ông không bao giờ khui đời tư của Sartre ra để đả kích, mạt sát ông. Nhưng VN chưa phải nước Pháp hay nhiều nước Âu Mỹ khác. Nhóm Nguyễn Ngọc Giao chủ trương tờ Diễn Đàn ở Paris hiện nay, hồi còn làm tờ Đoàn Kết cũng thường phê phán chế độ trong nước. Phần viết bằng tiếng Pháp nói mạnh hơn phần viết bằng tiếng Việt. Nhưng những gì tôi nghe được từ dư luận hay trực tiếp từ một vài người lãnh đạo đảng về tờ báo đều xuất phát từ những bài viết bằng tiếng Việt. Lúc đó, tôi nghĩ một số ít đọc được bài bằng tiếng Pháp am hiểu chút ít văn hoá Pháp không thể có thái độ trí thức như những người chỉ có thể đọc bài tiếng Việt. 4. Lựa chọn một loại diễn từ Bài viết là một diễn từ. Có hai loại diễn từ chính. Loại thứ nhất nhằm trình bày một vấn đề làm sao tới gần được chân lý khách quan của thực tại hiện nay hay lịch sử. Loại diễn từ nầy trong ý hướng viết không phải để gửi cho mọi giới độc giả mà cho các độc giả thuộc nhiều giới văn hoá, xã hội, chính trị, tôn giáo khác nhau, đôi khi đố kỵ oán ghét nhau với hi vọng độc giả vượt khỏi những hạn chế, hạn hẹp lối nhìn của giới mình để tiếp xúc với tác giả theo lương tâm, trí thức riêng của mình. Một ý hướng viết như vậy dĩ nhiên đưa đến nhiều ngộ nhận, chống đối đả kích, vì người đọc chỉ phản ứng theo giới mình, chẳng những không tìm thấy lối nhìn của giới mình qua tác giả mà còn thấy lối nhìn của giới mình bị phê phán xúc phạm, nhất là trường hợp tác giả thuộc một giới khác, một giới bị mình đố kỵ oán ghét. Loại diễn từ thứ hai nhằm mục đích tìm ra những giải pháp cho một vấn đề đặt ra trong một trường hợp cụ thể. Loại diễn từ nầy đòi hỏi người viết những điều kiện khác hẳn thiết yếu liên hệ tới những người thuộc một giới hay những giới chính trị,xã hội, tôn giáo mà người viết muốn nêu vấn đề và đề nghị giải pháp. Như vậy, người viết buộc phải chấp nhận trân trọng những người mình muốn nói với, bất kể họ thế nào; nếu họ thuộc giới người đang cầm quyền, phải tỏ ra trân trọng quyền hành của họ, không thể một mặt nêu vấn đề, đề nghị giải pháp, đồng thời mặt khác làm như thể không thèm nói với những người mình muốn người ta chấp nhận giải pháp đề nghị và đem ra thực hiện, thậm chí còn bày tỏ thái độ khinh miệt hoặc hạch tội người ta. Thực ra, loại diễn từ nầy cũng nhằm nói với người đọc như cá nhân đọc theo lương tâm trí thức của họ vượt ra khỏi những hạn chế hay lối nhìn quan điểm của họ. Nhưng làm sao người đọc là một vài cá nhân có thể được thuyết phục và sau đó thuyết phục những người khác trong giới của họ nếu trước hết, người viết không chứng tỏ tư cách trí thức của mình để được họ phải lắng nghe,theo dõi những phân tách luận điểm trình bày của người viết? Phân tách, đưa ra luận điểm của người viết không phải để phê phán đả kích những lệch lạc, sai trái, mà trình bày những hình thành, diễn tiến xã hội hay lịch sử thế nào rút cục đã đưa đến tình trạng lệch lạc, sai trái mà người đọc có thể cũng nhìn nhận giữa họ với nhau. Nói cách khác, giải thích một đường lối chủ trương có thể tốt do thiện chí thuở ban đầu tại sao bây giờ lại thế nầy. Sự phân biệt hai loại diễn từ rất quan trọng, ví dụ những người giới Phật giáo phê phán gay gắt chế độ ông Diệm là Công giáo trị nhằm tạo đoàn kết lương-giáo mà không đếm xỉa đến người Công giáo, kể cả những người Công giáo của ông Diệm có thể chấp nhận đối thoại, đoàn kết được. Từ 1955 đến 1975, tôi lựa chọn loại diễn từ thứ nhất. Tôi chỉ bận tâm nêu vấn đề hay đúng ra là đặt lại vấn đề, đưa ra những nhận định, phân tích, phê phán nhằm gởi tới độc giả thuộc các giới chính trị, xã hội, tôn giáo khác nhau, đọc theo lương tâm trí thức của họ, bất chấp những chuyện nhạy cảm của những giới mà tôi đụng tới. Do đó, thật dễ hiểu tôi gặp chống đối từ phía những người đọc theo giới của họ. Tôi không thấy phiền hà gì trước những những phản ứng chống đối, vì tôi đã biết trước không thể tránh được. Tôi vẫn nghĩ tôi không viết làm gì nếu không buộc được người đọc phản ứng – phản ứng thế nào cũng được, miễn là có phản ứng, và tôi coi như thế là đạt được ý định viết vì đã gợi mở điều kiện để người đọc theo lối nhìn quan điểm của giới mình phải bộc lộ quan điểm của giới họ. Sau 1975, tôi không còn điều kiện viết những vấn đề liên quan đến thời cuộc và nói chung, trừ một hai bài viết đăng trên báo chí công khai gây phiền hà cho những người phụ trách điều hành, tôi giữ im lặng. Tuy nhiên tôi vẫn viết và viết nhiều theo loại diễn từ thứ hai. Không phải tự ý viết mà được yêu cầu viết. Tôi viết cho hai giới giới công giáo và giới đảng, nhưng không phải cho tất cả cho mọi người trong hai giới đó, mà chỉ một số người. Một vài vị lãnh đạo cơ quan đảng đề nghị tôi làm những phân tách kèm theo những biện pháp về một số vấn đề như phải tiếp thu thế nào những trào lưu tư tưởng Tây phương hiện sinh, cấu trúc, chính sách đối với trí thức cũ, đối với các tôn giáo, đặc biệt công giáo… và đòi hỏi viết theo lối nhìn, quan điểm của tôi. Nói cách khác, tôi vẫn có thể nói thẳng, nói thật những điều muốn nói. Những bài viết cũng theo yêu cầu chỉ để phổ biến hạn chế, lưu hành nội bộ trong giới lãnh đạo. Về công giáo, tôi viết cho một số trí thức, linh mục, và hạn hẹp hơn cho một vài giám mục, đặc biệt Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình đã đề nghị tôi làm consultant riêng từ 1975 đến 1995. Ngoài ra, tôi cũng có viết một công trình nghiên cứu thuần tuý văn hoá VN không liên quan gì đến thời cuộc, nên không đụng chạm đến lối nhìn riêng của mọi giới. Những công trình nầy đến nay chưa xuất bản được cả ở trong và ngoài nước. Tuy nhiên, khi xuất bản được, nếu có phản ứng, có thể sẽ chỉ là những góp ý mà thôi. Chứng từ Trước hết, xin giới thiệu bài “Trả lời phỏng vấn của báo Bách Khoa về Đại học hè Đà Lạt của tôi, và bài “Đại Học Đalat và kỷ niệm xa xưa” của Nguyễn Tiến Đức, hiện là giáo sư ở vùng Hoa Thịnh Đốn. Ông đã là tham dự viên của hai Đại học hè Dalat 1959, 60. Mấy năm ở Huế là thời kỳ có nhiều kỷ niệm đẹp nhất của đời tôi trong đại học và ngoài đại học. Nhưng điều xảy ra cho tôi cũng là những điều xảy ra cho người xứ Huế, rút cuộc tự ý hay bắt buộc phải bỏ Huế, và như vậy Huế không phải là nơi để ở mà là nơi để nhớ thương. Người được coi là ngôi sao sáng của Đại Học Huế đã buộc phải bỏ Huế, đúng hơn nữa bị đuổi ra khỏi Đại Học Huế Dòng Việt trang 143-6 và Lê Thanh Minh Châu trong Nhớ Đại Học Huế», Tiếng Sông Hương, Dallas 1998. Ai đuổi và tại sao, sự kiện ra đi của tôi đã gây những dư luận tai tiếng quái ác vẫn được nhắc đến như một bằng cớ để đả kích, mạt sát tôi cho đến hôm nay, mà tôi có dịp sẽ nói sau. Sau đó, xin giới thiệu hai bài trả lời phỏng vấn bằng tiếng Pháp năm 1990. Đó là bài phỏng vấn của một nữ sinh viên Pháp gốc Việt làm luận án tiến sĩ về đề tài Người VN du học tại Pháp; và bài trả lời người đại diện tổ chức phi chánh phủ France Libertés do bà Tổng thống Danielle Mitterand đứng đầu, nói về văn hoá Tây phương, nhân một dự định đi Âu châu không thành. Qua các bài phỏng vấn, tôi nói về nguồn gốc đào tạo, vốn văn hoá tôi tiếp thu được trong thời du học ở Âu châu. Những ai đã ở Âu châu, Pháp hay ở VN am hiểu văn hoá Âu châu, Pháp đều dễ dàng nhận ra nguồn gốc đào tạo tiếp thu khi đọc những gì tôi viết bằng tiếng Việt, đặc biệt liên quan đến vấn đề giao lưu, chuyển dịch, đưa những lối nhìn khái niệm từ bên ngoài vào văn hoá, văn học, hoàn cảnh xã hội VN. Nhưng rất tiếc tôi ít được phê bình đùng đắn do những người am hiểu, có trình độ như Tam Điểm đã phê bình Ca tụng thân xác, về khả năng thực hiện văn hoá giao lưu kể trên. Phần lớn các bài phê bình đều có tính xuyên tạc, chụp mũ, vu khống, do những người cầm bút học hành dang dở. Nhưng bây giờ đọc lại những bài phê bình thuộc loại đó, tôi nhận ra tôi cũng có trách nhiệm phần nào vì tôi đã chưa thoát, chưa chuyển hoá hoàn toàn lối nhìn, phương pháp khái niệm Tây phương vào văn hoá VN một cách sáng tạo làm cho những người kém am hiểu văn hoá Tây phương không thể nhận ra nguồn đào tạo, vốn tiếp thu từ bên ngoài, như trường hợp Hồ Biểu Chánh mà tôi đã nhận ra trong công trình tìm hiểu văn học miền Nam. Tiểu thuyết nào của Hồ Biểu Chánh lấy chất liệu cảm hứng từ nhà văn Pháp, mà nếu người đọc không am tường văn hoá Pháp sẽ tưởng rằng đó là những tác phẩm hoàn toàn Hồ Biểu Chánh. Khi nói viết cho những độc giả đọc theo lương tâm trí thức của mình, không phải cho các giới tôn giáo, chính trị, xã hội, thực ra tôi đã theo cách phân biệt của Sartre, viết cho des lecteurs chớ không phải cho le public. Vì thế tôi không để ý đến phản ứng của các giới, đôi khi còn chọc giận các giới, bất kể là Công giáo, Phật giáo, Cộng sản…mà tôi cho là bảo thủ, lạc hậu, chật hẹp, vì chỉ biết tìm mình qua kẻ khác tìm được thì khen, không tìm được thì chê. Tôi có nhiều kinh nghiệm về điều nầy. Chẳng hạn như Giám mục Phạm Ngọc Chi ra Huế chất vấn Linh Mục Cao Văn Luận tại sao mời tôi là kẻ rối đạo dạy học chuyện này do LM Luận kể lại với tôi, nhưng khi Hội đồng giám mục trao lại quyền điều hành cho các linh mục người ngoại quốc thì đã bị nhiều phản đối mà GM Chi là bị nhắm vào. Tôi tích cực chống lại quyết định đó tại tòa khâm sứ và đã góp phần vào việc bải bỏ quyết định trên. Đức cha Chi lên tận nhà tôi bày tỏ lòng cám ơn bây giờ mới hiểu thầy là người tha thiết bênh vực quyền lợi giáo hội Việt Nam. Tôi đã viết đâu đó trước 75, tự coi mình là người không xếp hàng ngay cả với những người không xếp hàng, do đó tôi không quan tâm đến những chống đối và coi đó là đương nhiên. Tôi có ý định tích luỹ nội dung những hình thức chống đối làm chất liệu suy nghĩ thành sách vè đề tài Sự ngộ nhận giữa người với người qua chữ viết. Sau 75 tôi không thể viết cho những độc giả đọc theo lương tâm trí thức của mình, nhưng lại có dịp đưa tôi trở lại cảm thông chia sẻ lối sống, cảm nghĩ của những người thuộc các giới xã hội, tôn giáo mà trước đây tôi không lưu tâm, coi thường vì cho là bảo thủ, lỗi thời, chật hẹp… Hồi ở Sở Công An Thành phố Nha Cảnh Sát Đô Thành trước 75, ban sớm mai, thỉnh thoảng tôi mới nghe được tiếng chuông nhà thờ từ xa vọng về, rất nhỏ, không rõ từ nhà thờ nào gần đó. Tôi bỗng thấy thèm muốn đi xem lễ ở nhà thờ của những đám đông giáo dân mà trước đó tôi thường xa lánh, bởi ưa đi xem lễ nơi các nhà nguyện ít người, phần đông là trí thức… Rồi một ban sáng khác, tôi được nghe tụng kinh Phật, giọng miền Trung, từ một cachot nào đó, giọng thật truyền cảm của ông đại uý chồng cũ của đào Thanh Nga. Ông bị tình nghi có dính líu tới vụ sát hại vợ ông! Tôi không hiểu lời kinh, nhưng chỉ nguyên giọng tụng niệm đã đưa tôi vào tình tự Phật giáo mà tôi không tìm được qua các sách báo Phật giáo mà tôi đã đọc. Sau khi được thả, tôi thường đi lễ sớm ở các nhà thờ họ đạo. Tôi đến chùa Ấn Quang nhờ các nhà tu quen biết gốc miền Trung tìm dùm các băng cassette bài kinh, nhưng ít ai dám thu băng vào thời nầy. Mãi khi sang Bắc Mỹ, tôi mới tìm được. Tôi nhớ đã được xem một phim trong đó có cảnh Chúa đang bị đóng đinh trên thập tự giá nhưng còn muốn làm tình với mấy người đàn bà, gây xúc động, phản đối trong số khán giả Ki-Tô giáo. Tôi không tán thành lối sáng tác nghệ thuật dành cho những khán giả xem với lương tâm trí thức của họ, bất chấp những nhạy cảm của tôn giáo mà xét về một mặt, phải tôn trọng ngay cả những niềm tin, lối sống đạo truyền thống bị coi là bảo thủ. Tôi muốn hỏi những người viết truyện, đóng phim kể trên, giả sử họ có những bà mẹ, người chị vẫn còn giữ đạo theo lối truyền thống có đau lòng không khi xem phim của họ, và nếu có, họ có dám xúc phạm đến những người mẹ người chị của họ hay không? Cũng trong tinh thần đó, tôi không tán thành lối viết xúc phạm đến tôn giáo của nhà văn Salman Rushdie khi ông trả lời phỏng vấn mà có lẽ trước 75 tôi thích thú Phép lạ thực sự của văn học là nhờ văn học, chúng ta không thuộc về ai cả, không ai chiếm đoạt được chúng ta. Trách nhiệm duy nhất của chúng ta là nói lên điều chính chúng ta thấy cần phải nói. Những người không ưa chúng ta chỉ việc tìm đọc sách khác. Le Nouvel Observateur, số 1682, tháng 9/1996, Trong bài trả lời phỏng vấn liên quan đến văn hoá Tây phương, tôi gợi ý việc tìm hiểu nguồn gốc tư tưởng Marxisme, Léninisme xuất phát từ triết học. Ánh sáng cách mạng Pháp, xu hướng 1793 mang tính chất chống tôn giáo, giáo sĩ trị… đã có những hậu quả tai hại thế nào về văn hoá, chính trị, và đặc biệt đã có những hạn chế nào trong lãnh vực văn hoá do tình trạng độc quyền văn học của văn hoá Pháp ở VN, một nước thuộc địa của Pháp. Mấy ý nầy tôi đã khai triển hơn trong một buổi nói chuyện về phương pháp luận cho lớp chuẩn bị tiến sĩ của trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh. Chị Tôn Nữ Nha Trang, một Việt kiều ở Mỹ, làm luận án về văn hoá VN có mặt trong buổi hội thảo. Tôi đã nhờ chị trả lời câu hỏi Giả sử VN bị người Anh thay vì bị người Pháp đô hộ thì nền văn học VN có đi vào một hướng khác, ảnh hưởng đến tư tưởng cách mạng chính trị, vì nước Anh không có một truyền thống giống nước Pháp. Bài nói chuyện nầy sau đó đã được đăng trong tạp chí Văn Học do Nguyễn Mộng Giác chủ biên, tựa đề là Khái niệm và thể loại văn chương» Văn Học số 100, tháng 8/1994. VN vì chịu sự khống chế của nền văn hoá Pháp nên kể như không có giao lưu văn hoá với văn hoá văn học khối Anglo-Saxon và cả văn hoá Nga. Chỉ về sau, dưới chế độ Cộng Sản, văn hoá Nga qua văn hoá Liên Xô mới du nhập VN do các sinh viên du học hay đọc sách báo Nga tại VN. Văn hoá Nga không có truyền thống chống tôn giáo, trái lại dựa vào tôn giáo, đặc biệt về văn học và ngôn ngữ học. Sự tiếp thu văn hoá Nga đã tạo điều kiện cho trí thức VN có dịp tìm hiểu văn học, ngôn ngữ VN qua mảng văn học bình dân, đại chúng là mãng quốc ngữ và nôm đạo từ thế kỷ 17, trong khi trí thức ở Saigon trước 75 hay ở Pháp chỉ được thông tin bằng tiếng Pháp qua các nhà văn hoá ngôn ngữ Đông Âu. Với những lối tiếp cận từ nền văn hoá Nga, tôi đã khám phá ra mảng văn học đại chúng dân gian của người công giáo VN. Mảng văn học đó chứng minh một cách không thể chối cãi người Công giáo đã là VN qua các kinh sách tuyên vận bằng chữ nôm ngay từ thuở ban đầu đạo Chúa du nhập VN từ thế kỷ 17. Điều trớ trêu là một số trí thức Công giáo chuyên về ngôn ngữ và văn học và một số trí thức từ miền Bắc vào cùng nhau nghiên cứu tiếng Việt dựa vào vốn tài liệu quốc ngữ đạo và nghiên cứu mảng văn học đại chúng Công giáo, đều nhìn nhận và ca tụng một số văn bản đặc sắc nhất của mảng văn học đó. Nói tóm lại, quãng từ 1985, tôi bắt đầu lưu tâm tìm hiểu một cách trân trọng tâm tình giới Công giáo được biểu lộ qua các tài liệu nôm, quốc đã viết được một số công trình biên khảo cho tất cả giới Công giáo đọc, không phải chỉ cho một số độc giả đọc theo lương tâm trí thức của họ và cho các giới khác đọc, đặc biệt cho giới còn chịu ảnh hưởng lối nhìn cách mạng Cộng Sản, còn rất nhiều thiên kiến đố kỵ người Công giáo. Chính trong ý định viết cho các giới đọc, đặc biệt để nói với giới còn nhiều thiên kiến đố kỵ với Công giáo, và đề ra giải pháp và cùng với họ tham gia thực hiện giải pháp bằng một vài việc cụ thể mà tôi đã biên soạn một số công trình về Công giáo trong cộng đồng dân tộc». Nhưng cuối cùng mọi việc đều dang dở, chưa thực hiện được trọn vẹn. Cho tới bây giờ, tôi vẫn không hiểu những lý do và những phiền hà tôi đã gặp, hỏi ngay những người có thẩm quyền trực tiếp liên hệ vẫn không được trả lời. Tôi nghĩ rằng có chuyện nội bộ trong cuộc tiến hành đổi mới và những việc làm được yêu cầu, đề ra ở cấp cao như Ban kinh tế Trung ương Đảng, nhà xuất bản Sự Thật của Trung ương Đảng, Ban Tôn giáo chính phủ…; về phía công giáo, Tòa Tổng giám mục, một số linh mục quản hạt, chính xứ, không được lòng nhà nước. Hai năm sau, một biên soạn khác cũng về đề tài Công giáo được thực hiện, có lẽ vì ở cấp dưới và chỉ có một cấp đại học. Bên cạnh bài trả lời về văn hoá Tây phương, tôi xin nói qua về một vài thư từ qua lại không đầy đủ, giữa ông Võ Oanh, Trưởng ban kinh tế Trung ương Đảng, ông Nguyễn Linh, Phó giám đốc nhà xuất bản Sự Thật ở miền Nam, và tôi. Gốc gác của những liên hệ giao dịch qua hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Bưởi-Chu Văn An. Tôi quen biết một số vị ở miền Bắc như Võ Oanh, Thép Ma đã qua đời, Thiết Vũ qua hội nầy. Tôi liên lạc với bạn bè ở Pháp, đặc biệt anh Nguyễn Đức Nhuận, viết cho Le Monde Diplomatique về VN, trước 75, có thời anh về nước dạy Triết ở Đại học Văn Khoa Saigon. Anh Nhuận có cho tôi biết danh tánh của một số trí thức Pháp đã can thiệp cho tôi ra khỏi tù và đề nghị tôi viết thơ cám ơn họ. Qua anh, tôi liên lạc được với các tổ chức phi chánh phủ và gởi cho tôi những sách báo về kinh tế, lịch sử, chính trị, triết học, tôn giáo… Tôi cũng nhận được tạp chí Esprit mà tôi có gần đủ bộ trước 75. Về đề nghị của nhà xuất bản Sự Thật, bạn bè ở Paris cho biết họ muốn có những tín hiệu cụ thể về quyết tâm đổi mới trong lãnh vực khoa học, tôn giáo. Do đó ông Nguyễn Linh đề nghị tôi biên soạn để xuất bản một quyển sách về tôn giáo. Tôi nói với ông Nguyễn Linh nếu thực hiện được một tọa đàm về quyển sách nầy một cách nghiêm chỉnh thì đã là một tín hiệu đáng tin cậy rồi. Tôi sẽ nói sau về nội dung cuốn sách và buổi tọa đàm nầy. Tôi nghĩ rằng có thể buổi tọa đàm nầy là nguyên nhân làm ngưng trệ các cố gắng đổi mới hay là chết» vào thời đó. Trong buổi tọa đàm nầy, những trí thức do tôi mời đều dè dặt, ít nói, nhưng những người của nhà xuất bản Sự Thật có người phát biểu mạnh bạo về đòi hỏi đổi mới. Nói cho đúng, ở VN, bên nầy hay bên kia sử dụng những cặp đối lập tiến bộ/bảo thủ, tả/hữu về chính trị có lẽ không xác thực, vì những đối lập đó thiếu cơ sở về giai cấp xã hội mà chỉ có những tranh giành quyền hành chính trị giữa các phe nhóm. Tôi biên thư cho ông Vỏ Oanh không được trả lời, sau đó ông nhờ người vào nói với tôi rằng thư từ giữa ban bí thư cũng bị kiểm duyệt, và ông Võ Oanh bị khó khăn vì bị nghi theo phe nầy phe nọ. Củng có khó khăn phức tạp về nhiều thể chế chồng chéo ít nhiều có quyền hành, đảng, chính phủ, mặt trận, công đoàn. Những việc liên quan đến tôn giáo thường phải thông qua Mặt trận, Ủy ban Đoàn Kết. Việc chúng tôi cộng tác với nhà xuất bản Sự Thật, Ban tôn giáo của chính phủ thực sự qua Mặt Trận, bộ phận phụ trách tôn giáo lại làm công khai, lộ liễu. LM Nguyễn Hưng có đóng góp vào bản thảo của tôi, đứng ra vận động các linh mục góp tiền, vàng trong kỳ cấm phòng hàng tháng của các linh mục để in, được phép và có sự cổ vỏ của TGM Nguyễn Văn Bình. Khi tôi bị Công an kêu lên làm việc vài buổi không hề nhắc tới những vi phạm đó mà chỉ yêu cầu tôi giải thích nguồn gốc, diễn tiến sự việc như thể tôi chủ động và buộc tôi đi thu hồi các bản thảo in ronéo nội dung buổi tọa đàm. Họ chỉ yêu cầu về phía tôi mà không đụng gì đến phía nhà xuất bản Sự Thật, vì chắc nhà Sự Thật không phổ biến, trong khi bạn bè tôi đã chuyền cho nhau đọc, đem photocopie ra, và như vậy là đã vi phạm qui định phổ biến hạn chế, lưu hành nội bộ. Bây giờ nhìn lại chuyện hồi đó, nếu chúng tôi thận trọng tuân giữ một số qui định, mặc dù không đồng ý như tôi nói trong bài phỏng vấn, có thể cuốn sách đã được xuất bản trong thời điểm đổi mới còn sôi nổi, chưa có những biến cố Ba Lan, Đông Âu, và có thể có những vang dội trong nước lẫn ngoài nước. Ngày nay, nếu có xuất bản, nhiều phần đã trở nên lỗi thời và chỉ còn để ghi lại một cố gắng đổi mới về tư tưởng tôn giáo đã thất bại. Giáo sư Luguern, người phụ trách tổ chức France Libertés ở khu vực Đông Nam Á đã đề nghị tôi cho phép đăng bài phỏng vấn trên báo Pháp. Tôi không thuận vì tôi không muốn tạo cơ hội cho những ai ở hải ngoại chống chế độ tại VN một trí thức như ông Nguyễn Văn Trung, ở lại VN, đã sẵn sàng đáp lại lời yêu cầu của chính giới lãnh đạo cao cấp, nhưng rốt cuộc chẳng làm được điều gì ra hồn và chỉ chuốc lấy những phiền hà, thế thì những người ỏ nước ngoài hi vọng làm được gì đáp lại lời kêu gọi VN tham gia xây dựng đất nước! Cũng trong thời gian nầy, giáo sư Phan Công Chánh, dạy Triết ở Đại học San José về thăm nhà, ngỏ ý nhờ tôi thực hiện một vidéo giới thiệu những công trình nghiên cứu văn hoá VN từ 75. Nhưng rồi trước khi GS Chánh trở lại Hoa Kỳ, tôi đã yêu cầu giáo sư huỷ bỏ băng vidéo cũng vì lý do như trên. Nói chung, tôi đã không lên tiếng, trả lời phỏng vấn hay cậy nhờ cơ quan nầy tổ chức nọ can thiệp vào những khó khăn thử thách mà tôi đã gặp từ 75 cho đến nay năm 2000 để giới lãnh đạo phải trực diện với những gì đã xảy ra mà không thể mượn cớ, dựa vào bất cứ lý do ngoại tại nào nhằm biện hộ cho những việc làm dang dở, thất bại, và do đó phải nhận trách nhiệm về phần mình. Bây giờ, có phổ biến công khai bài phỏng vấn chỉ là để nhắc lại một sự kiện đã qua trên 10 năm để đáp lại lời yêu cầu của GS Luguern và để các độc giả người Việt nói tiếng Pháp thuộc thế hệ trẻ có thể biết được. 5. Lựa chọn một thái độ trí thức Nói về người trí thức và thái độ trí thức, vẫn thường có những phát biểu tranh luận bày tỏ những cách hiểu khác nhau. Tôi tôn trọng cách nhìn của giới khác. Phần tôi, tôi có cách hiểu người trí thức và biểu lộ thái độ trí thức theo lối nhìn của tôi. Có người không đồng tình phê phán và tôi tôn trọng quyền phê phán đó. Tôi hiểu người trí thức không nhất thiết phải là người có kiến thức tiếp thu được ở nhà trường cấp đại học hay hậu đại học vì có những người có những kiến thức chuyên sâu nhờ đọc sách báo, kinh nghiệm tiếp xúc… Thực ra điều cốt yếu đáng nói không phải là vốn kiến thức mà là thái độ trí thức đối với chính cái vốn kiến thức và nhất là đối với những vấn đề cuộc sống trước mặt đặt ra. Trong gần 50 năm cầm bút, tôi đã bày tỏ nhiều lần ý kiến của tôi về vấn đề người trí thức và thái độ trí thức, chẳng hạn viết bài phân tách Sứ mệnh người trí thức», sau đó là bài Đọc cuốn Đi tìm một căn bản tư tưởng của ông Nghiêm Xuân Hồng» Nhận Định 2, bài Người vong bản trí thức», trong Nhận Định 3. Hồi 1966, viết bài phỏng vấn của nhật báo Xây Dựng ngày 8-8-1966 mà tôi nhắc lại ở đây trong phần Chứng từ. Sau 1975, tôi viết một bài dài đáp lại yêu cầu cho biết ý kiến về chính sách đối xử với trí thức chế độ cũ. Trong bài phân tách nầy, tôi đã sử dụng lý luận của một vài người thiên tả hay Mác xít như Paul A. Baran và A. Gramsci 1980. Tôi sẽ nhắc đến bài nầy trong phần 2 1975-1995 của tập Nhìn lại những chặng đường đã qua. Năm 1993, tôi lại nói về trí thức, lần nầy chú trọng vào người trí thức trong đảng Cộng Sản đảng có trí thức hay không trong bài viết đáp lại cuộc tham khảo ý kiến một số trí thức thành phố về đổi mới, trí thức. Nhìn lại những chặng đường đã đi qua, ở đây chỉ xin nhắc tới 10 tập Nhận Định, trong đó 6 tập đã xuất bản trước 1975, 3 tập viết trong thời 1975-1995, chưa xuất bản được và tập 10 1994-1998 gồm một số bài viết ở nước ngoài và trong thời gian về nước. Vào những năm cuối cùng trước 1975, tôi viết mục Bút ký hằng tuần cho nhiều nhật báo Tin Sáng, Hòa Bình, Dân chủ mới… Loạt bài nầy khá nhiều, chưa được gom lại xuất bản trong Nhận Định trước 75, và chính loạt bài nầy mới bộc lộ rõ hơn cả một thái độ trí thức đối với thời cuộc. Thái độ trí thức được bày tỏ trong các tập Nhận Định đúc gọn như thể một tuyên ngôn đăng nơi trang bìa 4 của tất cả các tập Nhận Định Triết lý là một nỗ lực nhận thức về cuộc đời. Nhưng bởi cuộc đời là một thực tại vô cùng phong phú, sống động và con người luôn luôn phải sống ở một vị trí nhất định mà nhìn cuộc đời cho nên ý hướng nhận thức của người bao giờ cũng chỉ lãnh hội được một vài khía cạnh trong muôn ngàn của cuộc đời đó. Như thế cuộc đời toàn diện, chân lý tuyệt đối trở thành một nhãn giới mà con người càng vươn tới, nhãn giới càng lùi xa… Và triết lý có nghĩa đi tìm hơn là tìm thấy. Đó không phải là lý do để thất vọng, vì nếu sự thật đã tìm thấy, sẽ không cần đi tìm nữa, đằng khác cái say mê cũng không phải hẳn ở chỗ tìm thấy nhưng ở chỗ đang tìm. Trong viễn tượng đó, không nên đưa ra những phán đoán thanh toán vấn đề, chấm dứt cuộc tìm hiểu, nhưng chỉ nên có những Nhận Định, nhận những ý kiến đề nghị để trao đổi, đối thoại với những bạn đường khác cũng đang đi tìm một mình. Ở cái thời độc tài, bạo động chia rẽ vì ai cũng cho mình nắm được chân lý toàn diện, thiết tưởng cần đề cao sự hoài nghi, phản kháng và gặp gỡ, trao đổi, đối thoại. Tác giả muốn đứng ở phía những người yêu chuộng sự trao đổi đó. Điều tôi thực sự lo ngại xảy đến cho tôi là sự lão hoá trong sinh hoạt suy tưởng. Lúc còn trẻ, tôi biết một số đàn anh vào tuổi 60,70 đã trở thành bảo thủ, lạc hậu, lỗi thời mà không hay, vì những người thuộc các thế hệ đàn em kính trọng tuổi già không dám nói ra ngay trong chỗ riêng tư. Bây giờ tôi ở lứa tuổi 70, tôi cũng thấy một số người cùng lứa tuổi đã lão hoá trong sự nghiệp cầm bút của mình. Tôi tự hỏi còn tôi thì sao? Tôi mong được các người cầm bút thuộc các thế hệ đàn em nói thẳng với tôi. Tuy nhiên, một cách chủ quan, tôi cảm thấy chưa đi vào xu hướng lão hoá về tư tưởng một cách nghiêm trọng, có lẽ vỉ hai lý do sau đây Tôi tra hỏi cuộc đời, nhưng cuộc đời của tôi cũng xuất hiện như một tra hỏi không ngừng. Trong chủ trương tiếp cận với thực tại, tôi cho rằng chỉ có thể từ một vị trí và do đó chỉ có thể nhìn thấy một khía cạnh của thực tại. Nếu thay đổi vị trí sẽ nhìn thấy một khía cạnh khác và không bao giờ lãnh hội được thực tại một cách toàn diện, hoàn tất. Lối nhận thức đó đưa tới một quan niệm tương đối về chân lý và một thái độ khiêm tốn không bao giờ được tự cao, tự mãn. Những nhận định từ những cái nhìn theo khía cạnh liên tiếp được đề nghị với người khác như bạn đường để gợi ý, thúc đảy họ thực hiện cuộc hành trình tư tưởng của chính họ. Ngay cả tư thế người dạy học, tôi vẫn cố gắng tránh sự áp đặt. Chị Hồng Khắc Kim Mai, một sinh viên cũ, gần đây có cho tôi biết một sự việc. Tôi đã cho điểm cao bài thi của chị, và chị đã hỏi tôi tại sao. Chị đã thuật lại câu trả lời của tôi lúc đó Mấy đứa kia trả bài như con vẹt, đôi lúc còn hiểu sai và xuyên tạc nữa. Còn cô ít nhất cô đã tỏ ra honnête, không học bài và đã trám vào bằng một câu chuyện với những lý luận không ra gì nhưng mà hay. Ít nhất cô cũng biểu lộ được một cá tính đặc biệt. Tôi hay qui tụ bạn bè cầm bút thực hiện một công trình chung, như ra một tạp chí. Trong trường hợp nầy, chẳng qua cũng như trải ra một chiếc chiếu, ngồi chung với nhau trên một đồng thuận nào đó, vào một thời điểm nhất định trong tinh thần tôn trọng những xác tín, lựa chọn cụ thể của từng người. Sự qui tụ đó không có nghĩa một mưu đồ thành lập nhóm nầy nhóm nọ, để xưng tụng lẫn nhau. Tôi nhìn nhận có những người trẻ hơn, chịu ảnh hưởng ít nhiều tư tưởng và lối viết của tôi, nhưng tôi không bao giờ xem họ là đồ đệ. Họ trưởng thành và đôi khi cũng bày tỏ công khai những phê phán, chứng tỏ họ đã vượt qua các đàn anh của họ. Tôi vẫn đặc biệt ghi nhớ và hãnh diện 6 số Sinh Viên do những người đã tốt nghiệp đại học thực hiện vào những năm 1966-68 ở Saigon, nhất là số 6, số chót dành cho việc phê phán các đàn anh của họ về triết học, lập trường xã hội, do những cây bút trẻ sinh viên thời đó Trần Triệu Luật, Nguyễn Tử Lộc, Nguyễn Trọng Văn… Tự bản thân tôi, tôi luôn bất mãn với những gì mình viết ra, thích thú trong việc đi tìm khai phá hơn là tìm thấy và an nghỉ trong những cái đã tìm thấy. Vì vậy, nếu không có đồ đệ để được xưng tụng, làm sao có thể bám víu vào quá khứ để trở nên lạc hậu lỗi thời? Nhưng lý do quan trọng hơn là số người cầm bút điểm sách, phê bình tỏ ra có hiểu biết, và nhìn nhận một cách nghiêm chỉnh thật ít so với đa số thích đả kích, mạt sát, chửi rủa đôi khi quá thậm tệ… Một vài người khác cũng có thái độ tương tự Mai Thảo, thường không bị một niềm tin, xác tín tôn giáo hay ý thức hệ nào chi phối. Trái lại, tôi thực sự gặp chống đối, phủ nhận nơi những người phê bình Nhận Định thuộc giới những người có niềm tin tôn giáo Công giáo hay Phật giáo hay ý thức hệ Mác xít, vì không thể chấp nhận một thái độ trí thức dựa trên quan niệm tương đối về chân lý. Nhận Định I tái bản đến lần thứ tư, tôi đã bỏ bài Từ bi Phật giáo, Bác ái Công giáo» đã in trong lần xuất bản đầu tiên, vì sự chống đối của Phật giáo, chẳng hạn qua bài Đạo Phật không có từ bi?» hay của Đường Minh trong tạp chí Nhân Loại, cả sự chống đối của Công giáo qua bài kiểm thư của tạp chí Ra Khơi, tháng 1,2/1958, cơ quan ngôn luận in ronéo của Đại Chủng Viện Bùi Chu. Nhận Định 2, tái bản lần thứ ba, gặp sự chống đối mãnh liệt của Hà Nội sau lần xuất bản đầu tiên về văn học và triết học Mác xít qua các bài của ông Nguyễn Văn Hoàn và cuốn sách của ông Trần Văn Giàu Nhận định về quyển Nhận Định, một tác phẩm duy linh nhân vị nhằm xuyên tạc chủ nghĩa Mác xuất bản ở miền Nam nhà xb Sự Thật, Hà Nội, 1962. Nhận Định 4 tập trung các bài về chủ đề Chiến tranh, Hòa bình, Cách mạng. Qua bài Đọc Nhận Định 4 của NVT» của Tam Thanh, đăng trong tạp chí Trí thức mới số tháng 6 12/1966, xuất bản trong khu. Bài nầy nhẹ hơn so với bài của Trần Văn Giàu và các tác giả ngoài Bắc. Tôi sẽ trở lại những phê bình của giới Cộng Sản trong một chương sau. Sau đây tôi xin giới thiệu hai bài điểm sách về Nhận Định 1 mà tôi xem là đã hiểu đúng ý hướng, chủ đích viết Nhận Định của tôi. Nhận Định của Nguyễn Văn Trung Nguyễn Du xuất bản Gồm những bài đăng trên tạp chí Sáng Tạo, Bách Khoa, Gió Mới và Thông Cảm cơ quan của một nhóm sinh viên Công giáo, tập sách trình bày một số vấn đề văn chương, giáo dục, triết lý và tôn giáo, theo nhận định riêng của tác giả. Điều nầy được ghi rõ trong lời mở đầu biểu lộ một nỗ lực giải quyết những thắc mắc của một người trong một hoàn cảnh riêng biệt của mình. Người đọc đã có một ý niệm rõ rệt về dụng ý của tác giả. Ông không thuyết phục, đòi hỏi một sự thống nhất quan điểm, cũng không có tham vọng xây dựng một phương pháp nhận định gương mẫu, duy nhất. Trái lại, ông chỉ chủ quan phân tích một số vấn đề trước hết thiết yếu đối với riêng ông và không chờ đợi gì hơn là sự thông cảm, sự chú ý, và những ý kiến chúng ta sẽ phát biểu về những vấn đề đó. Ý hướng triết học do quan niệm nầy được ông giải thích như một hiện tượng gắn liền với đời sống, và sẽ mất hết ý nghĩa khi tách rời khỏi đời sống. Triết lý thể hiện nỗi lo lắng tìm kiếm không ngừng, không nghỉ của con người. Đó là một thái độ đúng. Và tiến bộ nữa. Chính nhờ có thái độ nầy tác giả có được một cái nhìn trong sáng, một lối nhận định linh động, trực tiếp về chân tướng và bản thể sự vật. Không phải do nơi kiến thức sâu rộng, học vấn uyên bác, mà bởi lòng chân thành nơi con người tìm thấy sự thực, phô diễn dưới muôn vàn hiện tượng khác biệt và giá trị tương đối. Lòng chân thành ở đâu, sự thực và chân lý ở đó. Tác giả đã có sự chân thành nầy khiến cho tác dụng của tập sách không nằm trong những ý được nêu ra, mà trong cái thái độ của người đã nêu ra những ý kiến đó. Một vài vấn đề khác biệt, lẻ tẻ đề cập đến những lãnh vực quá ư rộng lớn, chưa thể xác định được ở đây, một nhà triết học lỗi lạc, nhưng đã giới thiệu được với chúng ta một con người có một đời sống tinh thần phong phú, một niềm tin mãnh liệt và một căn bản vững vàng. Trích trong mục Qua các bộ môn văn nghệ», tạp chí Sáng Tạo. Đọc sách Ông Nguyễn Văn Trung, giáo sư Triết học thường cộng tác với các báo Sáng Tạo, Bách Khoa, Gió Mới với bút hiệu Hoàng Thái Linh vừa cho phát hành cuốn Nhận Định về một số vấn đề văn chương, triết. Ba cuốn sách trước ông đã soạn theo khuôn khổ mực thước của sách giáo khoa về triết học, giáo dục, tôn giáo. Cuốn Nhận Định nầy là cuốn sách thứ tư của Nguyễn Văn Trung xuất bản tại VN. cố gắng vượt ra ngoài phạm vi gò bó của loại sách giáo khoa kể trên. Thật ra Nhận Định là tuyển tập những bài báo mà Nguyễn Văn Trung đã cho đăng trên các báo chí đô thành. Vì những bài báo đó bàn về đủ mọi vấn đề nên người đọc thoạt đầu hơi bỡ ngỡ không tìm thấy tính cách liên tục của cuốn sách. Nhưng đi sâu vào nội dung thì hẳn ta cũng tìm thấy sự nhất trí của tác giả. Dù đọc những bài báo về triết lý, giáo dục, hay tôn giáo, văn chương, ta vẫn thấy một con người Nguyễn Văn Trung duy nhất xuất hiện. Đó là một con người đùng trong hoàn cảnh phức tạp của xã hội nên muốn nhìn bốn phía, muốn nhận đýnh cho rõ những hoàn cảnh bao quanh mình. Nhưng dù nhìn về trước mặt hay nhìn lại sau lưng, nhìn những người tuổi trẻ hay những vấn đề siêu hình, bao giờ NVT cũng đứng trên quan điểm triết gia công giáo, chịu ảnh hưởng một cách sâu sắc những tư tưởng hiện tượng luận hiện đại. Về giá trị của từng bài, từng chương trong cuốn sách, người đọc giữ lại một cảm tưởng tổng quát có những bài có giá trị trung bình, nhưng cũng có bài xuất sắc. Những bài bàn về giáo dục của Nguyễn Văn Trung sẽ là những bài văn chóng tàn vì chúng liên lạc trực tiếp với những sự kiện có tính cách thời sự. Chúng sẽ bị thời gian vượt qua chẳng bao lâu. Trong bài so sánh Phật giáo và Công giáo, tác giả đã tỏ ra khe khắt với thuyết nhà Phật. Đó là một quan điểm cần phải xác định lại. Trái lại, loại bài về Cái nhìn, Tự tử, E lệ của NVT xứng đáng cho ta khuyên bên cạnh một nét son rất đậm. Đó là những bài khảo luận của một người am hiểu triết lý thực sự và cố gắng góp một phần tư tưởng vào lâu đài triết học. Qua những bài đó, ta thấy NVT có một lập luận vững chắc, một lập trường cởi mở, nhân bản. Nhận xét một cách tổng quát, ta vẫn phải nói rằng cuốn Nhận Định của Nguyễn Văn Trung là một cuốn sách có giá trị. Giá trị của cuốn sách và cố gắng của tác giả càng đáng đề cao hơn nữa trong tình trạng văn hoá hiện tại, khi mà sách vở triết lý quá hiếm hoi đến nỗi có những người vốn làm hề mà dám viết nên những cuốn sách triết lý để lòe bịp người đời. Nguyễn Linh trích Gió Mới, 20/1/1958 Văn bản do nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Vy Khanh đánh máy theo bản viết tay của tác giả và gửi cho Văn Việt. Bài cũng đã đăng ngày 04/09/2007, trang web Thông Luận. Comments are closed. 1. Những lúc nhìn lại chặng đường đi [C] qua [F]Con muốn dâng [G] lên lời tạ ơn [C] Ngài [A7] [Dm]Những lúc nhìn [F] lại đời mình đã [C] quaVới tháng ngày [Em] dài còn nhiều đắng [Dm] cayNhưng ơn cha [G] hằng ngày dịu ngọt lòng Tiếng Chúa dịu dàng thì thầm bên [C] tai [F]Ta ở bên [G] con từng giờ trong [C] đời [A7] [Dm]Dẫu bước đường [F] trần còn nhiều khó [C] nguyCó Chúa đồng [Em] hành lòng con sá [Dm] chiVững bước theo [G7] Ngài nguyện trọn đời [C] chặng đường gian [F] nanNhững [Am] chặng đường khốn [Em] khóChúa dắt [Dm] đưa qua từng nẻo [G7] đàngNhững [F] hoạn nạn chông [Fm] gaiNhững khúc [C] quanh trong [Em] đờiNgài đã dìu [Dm] con trong ơn thương [G7] xót cao sâu tuyệt [C] Tháng tháng ngày ngày dần dần trôi [C] qua [F]Bao nỗi quanh [G] co gập ghềnh trong [C] đời [A7] [Dm]Ta ước đời [F] mình càng gần Chúa [C] hơnBiết nếm đoạn [Em] trường càng yêu Chúa [Dm] luônXin cảm ơn [G7] Ngài chăm sóc đời [C] con. IV Ông Phạm Công Thiện Nguyễn Văn Trung “… nhiều khi nói cái gì không quan trọng bằng ai nói, ai nghe và chính quan hệ người viết, người đọc quyết định ý nghĩa điều nói viết ra…” Tôi nhìn lại “Những chặng đường đã qua” trong tinh thần cố gắng nhận ra trách nhiệm về phân minh những gì tôi đã viết, đã làm là đúng hay sai, đã gây hiểu lầm, phiền lòng, xúc phạm đến người khác hay đến những niềm tin xác tín của họ bất kể là thế nào. Trong ý hướng đó, tôi cũng nhận ra trách nhiệm của mình về những gì tôi đã không làm, những vụ đáng lẽ phải làm vì trực tiếp liên hệ đến tôi và trong tầm tay, khả năng của tôi. Tôi xin nói một trường hợp thôi, trường hợp Phạm Công Thiện. Sau đảo chánh 01/11/1963, ông Phạm Công Thiện xuất bản cuốn Hố thẳm tư tưởng, dành một chương phê phán luận án tiến sĩ của tôi với một thái độ khinh bỉ, trịch thượng, mạt sát thậm tệ. Cuốn sách bán chạy, dư luận bàn tán sôi nổi vụ “ông Phạm Công Thiện phê phán ông Nguyễn Văn Trung”, chờ đợi tôi lên tiếng đối đáp; nhưng cho đến nay tôi vẫn giữ im lặng, không có một lời nói công khai nào. Thực ra ngay sau khi sách ông Thiện ra ít lâu, tôi có viết “Thư ngỏ gửi ông Phạm Công Thiện”, chỉ nhằm mục đích nhắc tác giả về sự thay đổi thái độ 180 độ của ông Phạm Công Thiện đối với tôi, trước và sau đảo chính, và yêu cầu ông Thiện giải thích sự thay đổi đó. Trong “Thư ngỏ” dài 12 trang này, tôi không đả động gì tới nội dung bài của ông Thiện, không có ý tranh luận hay thanh minh gì, mà chỉ đòi ông Thiện cho dư luận hiểu tại sao trước 63, qua các thư gửi cho tôi, ông Thiện đưa tôi lên tận mây xanh, ca tụng tôi không những là nhà triết gia số một về triết Tây phương mà cả triết Đông phương. Nhưng sau 75, ông dìm tôi xuống bùn đen và đạp cho tôi chết ngộp trong vũng bùn đen đó. Tuy nhiên trong thư ngỏ tôi cũng bày tỏ thái độ của tôi về tư cách người cầm bút sáng tác nói chung. Tôi chấp nhận và có thể hoan nghênh thái độ phản kháng, phủ nhận của người cầm bút đặc biệt như một thi sĩ, và vì đã tự coi mình là “thiên tài nhất không phải chỉ ở Việt Nam mà cả thế giới” dĩ nhiên có quyền khinh chê, mạt sát mọi người. Trong sách, ông Thiện đã phủ nhận tất cả các triết gia “Ngay đến Heraclite, Parmenide và Empédocle, bây giờ tao còn xem thường, tao coi ba tên ấy như là ba tên thủ phạm của nền văn minh hiện đại, chưa nói đến Socrate, đó là một tên ngu dại nhất mà ta đã gặp trong đời sống tâm linh của ta”. Ông coi những nghệ sĩ như Goethe, Dante như những thằng hề ngu xuẩn. Ông muốn mửa màu đen trên những người làm văn nghệ ở Paris. Còn về Sartre và S. de Beauvoir, “nếu họ muốn xin gặp tao, tao sẽ không cho gặp mà còn chửi vào mặt họ”… Về Thiền tông “Tao đã gửi Thiền tông vào một phong bì tối khẩn đề địa chỉ của bất cứ ngôi chùa nào trên thế giới. Về dạy học, thời gian tao học ở Hoa kỳ, tao đã bỏ học vì tao thấy những trường Đại học mà tao học như Yale, Columbia chỉ toàn là những nơi sản xuất những thằng ngu xuẩn, ngay đến giáo sư của tao chỉ là những thằng ngu xuẩn nhất đời, tao có thể dạy họ hơn là họ dạy tao… Bây giờ nếu có Phật Thích Ca hay Chúa Giê su hiện ra đứng giảng trước mặt tao, tao cũng không nghe theo nữa. Tao chỉ dạy tao. Tao là học trò của tao và chỉ có tao làm thầy cho tao. Tao không muốn làm thầy ai hết và cũng không để ai làm thầy tao. Còn các Văn Sĩ ở Sài Gòn, đọc các bài thơ của các anh, tôi thấy ngay sự nghèo nàn của tâm hồn anh, sự quờ quạng lúng túng, sự lặp đi lặp lại vô ý thức hay có ý thức trí thức “mười lăm xu”, ái quốc nhân đạo “ba mươi lăm xu”, triết lý tôn giáo “bốn mươi lăm xu””. Nếu những đại triết gia, văn hào, thánh hiền còn bị ông coi là những tên ngu xuẩn, và tác phẩm cùa họ đáng vứt vào cầu tiêu thì tôi bị ông kết án là “tượng trưng cho sự nô lệ, nông cạn phá sản của giới trí thức Việt Nam hiện nay” có gì lạ. Trong thư ngỏ, tôi nói với ông Thiện tôi không hề cảm thấy bị xúc phạm về thái độ mạt sát khinh bỉ của ông, và hơn nữa chấp nhận thái độ phản kháng phủ nhận triệt để của ông với điều kiện qua đời sống, ông cho thấy ông đã vươn tới một thái độ tâm linh siêu nhiên vượt khỏi mọi giới hạn ngôn từ, khen chê, xưng tụng hay chửi thề. Bày tỏ sự bất nhã, bất kính ngay cả với Phật Chúa chính vì để cho thấy khả năng phản bội của ngôn từ. Xưng tụng tôn thờ mà thực ra là xúc phạm, và nói lời phạm thượng, xúc phạm lại bày tỏ sự tôn kính thực sự. Tôi thật thắc mắc đời sống cụ thể của ông Phạm Công Thiện không cho thấy tỏa ra một vẻ đạo hạnh nào của nguời tu trì thánh thiện. Ngược lại, tôi thấy ông đã có những lựa chọn trong đời sống cụ thể hoàn toàn trái ngược với những gì ông nói hay viết ra. Ông nói khinh bỉ nghề dạy học làm thầy người khác, nhưng lại vào tá túc tại Đại Học Vạn Hạnh, mặc áo cà sa mang pháp danh “Đại đức Thích Nguyên Tánh” khỏi phải đi lính như những người khác, cùng tuổi không bằng cấp. Tóm lại, tôi sẽ trọng ông nếu ông chửi đời, chửi người khác và sống lang thang như Bùi Giáng, Sao Trên Rừng Nguyễn Đức Sơn sau nhiều lần thi trượt dự bị văn khoa không phải vì anh kém mà chỉ vì anh không tuân theo những luật lệ của trường thi, nên anh sống lang thang làm thơ phẫn nộ, cấm sinh viên giáo sư văn khoa đọc tác phẩm của anh. Trong trang cuối cùng, tôi thấy ông ghi chú rằng “Hố thẳm tư tưởng” ra đời để đánh dấu ngày tôi chấm dứt mọi liên lạc tình cảm với Bùi Giáng và Nhất Hạnh. Không còn gì để nói nữa. Sự đoạn tuyệt này thật xác đáng, vì ông Phạm Công Thiện bây giờ không giống Nhất Hạnh, ở nơi vị thượng toạ này, con người thi sĩ không chửi vào mặt con người tu trì. Cũng không giống Bùi Giáng vẫn sống vất vưởng phù hợp với thái độ bây giờ qua thơ văn của mình. Tôi gửi thư ngỏ kèm những bức thư ông Phạm Công Thiện gửi cho tôi về tòa soạn báo Đại Học Huế, nhờ Lê Ngộ Châu chuyển, thay vì tôi có thể đăng công khai. Mấy bữa sau, tôi và ông Thiện gặp nhau ở tòa báo Bách Khoa với sự chứng kiến của anh Lê Ngộ Châu. Trong bữa gặp gỡ đó, ông Thiện thú nhận với tôi đại ý như sau Tôi viết bài phê bình anh để thỏa mãn những uất ức bất mãn của giới Phật giáo coi anh là tiêu biểu cho trí thức Việt Nam nói chung và trí thức Công giáo nói riêng. Tôi xin hứa với anh sẽ bỏ bài đó trong lần tái bản sách sắp tới. Ông Phạm Công Thiện đã giữ lời hứa. Đáng lẽ tôi phải đề nghị ông Phạm Công Thiện và chúng tôi đồng ý lên tiếng chung, một cách công khai, đăng trên báo về quyết định kể trên. Tôi đã không làm việc đó vì coi như mọi sự đã dàn xếp xong. Nhưng sau đó nhiều người trong giới cầm bút, nhất là trong giới Phật giáo vẫn trích dẫn, những phê phán đả kích của ông Phạm Công Thiện trong các bài viết của họ. Tôi cũng đọc qua cho biết nhưng không bận tâm nên cũng không liên lạc với ông Thiện yêu cầu làm việc lên tiếng chung. Chỉ kể một vài người mượn ông Phạm Công Thiện để công kích tôi. Cung Tích Biểu viết thế này “Ông Nguyễn Văn Trung chỉ là một trí thức phá sản? Ông không có gì để phá sản. Ông chỉ là kẻ bịp và là một du đãng văn nghệ. Kẻ bịp kia như thế nào thì đã có ông Phạm Công Thiện làm cáo trạng từ lâu rồi.” Tuần báo Khởi Hành số 150, 1972. Chu Tử, qua bút hiệu Kha Trấn Ác, viết “Người hùng Nguyễn Văn Trung” trong tuần báo Đời số 11 phát hành ngày 27 11 1969, nhắc lại tập san Sử Địa trích lời phê bình của ông Phạm Công Thiện đối với ông Nguyễn Văn Trung như sau “Đối với tôi Nguyễn Văn Trung tượng trưng cho sự nông cạn, nô lệ, phá sản của giới trí thức Việt Nam hiện nay. Tên ấy gợi lên sự học vấn lừng khừng suy tư thiếu máu, cóp nhặt thiếu thông minh, kiêu ngạo, ngu xuẩn, lưu manh, nguy hiểm. Tôi đã tàn bạo khi viết những giòng trên. Phải tàn bạo. Không thể nhẹ nhàng, không thể cảm thông, trao đổi với hạng người trên…” Cái gì mà cay cú dữ dằn thế! Riêng Đầu Gối chỉ tiếp xúc với ông Trung có một lần, không hiểu rõ con người thực của Nguyễn Văn Trung ra sao, Đầu Gối chỉ có cảm nghĩ dưới đây về trường hợp Nguyễn Văn Trung… Ý của Chu Tử sau đó là tôi có thể là gì cũng được miễn là đừng làm tay sai nằm vùng cho cộng sản thế thôi… Trong bài “Mười năm sinh hoạt văn hóa Phật giáo tại Việt Nam” 1963 – 1973 Trần Quang Phúc trong tạp chí Hải Triều Âm 1973 “Ngoài các hoạt động của báo Đại Học, những tác phẩm của Nguyễn Văn Trung gây chấn động cho giới Phật giáo thời đó nhiều nhất. Không kể những bài trong quyển Nhận Định, riêng quyển Biện chứng giải thoát trong Phật giáo của ông quả thực là một quả bom nổ, không khí rầm rộ không kém bài phê bình của ông Phạm Công Thiện về quyển La conception boudhique du Devenir sau này. Bạn tôi đi du học đã gần bảy năm mà nghĩ đến Phật giáo thời đó vẫn viết thơ về bắt tôi chạy tìm cho được quyển La conception boudhique du Devenir của Nguyễn Văn Trung, thì đủ biết tầm mức của nó gây ấn tượng sâu đậm như thế nào”… “Sau Ngày sinh của Rắn, Hố thẳm tư tưởng xuất hiện lại càng gây chấn động dữ vì bài phê bình Nguyễn Văn Trung. Một số Phật tử thỏa mãn, họ có ý nói là trả lại những lộng hành của Nguyễn Văn Trung đối với Phật giáo trước kia. Một số người khác chỉ đồng ý một nửa vì phê bình quá nặng tay. Lần tái bản Hố thẳm tư tuởng sau này, Phạm Công Thiện tự ý bỏ bài phê bình đó. Sau gần 30 năm, nhìn lại vụ này trong “Những chặng đường đã qua”, tôi nhắc đến bữa gặp gỡ giữa chúng tôi, có mặt anh Lê Ngộ Châu, còn sống ở Sài gòn, để người đọc, nhất là trong giới Phật giáo, hiểu cho rằng không phải tự ý ông Phạm Công Thiện bỏ bài phê bình đó. Trong tinh thần tôn trọng tinh thần trung thực, tôi vẫn còn giữ nguyên những thư ông Thiện gửi cho tôi với tư cách chủ trương biên tập tạp chí Đại Học Huế. Những thư này được lưu giữ trong hồ sơ của tạp chí, mục liên lạc với độc giả. Và người viết lịch sử văn học Việt Nam có thể tham khảo hồ sơ này còn được lưu trữ ở Thư viện Đại Học Huế. Nhưng mục đích chính nhắc tới vụ này là để kể lại lúc đó tôi đã nghĩ gì về “hiện tượng Phạm Công Thiện”, và bây giờ tự xét xem tôi có trách nhiệm gì về phần tôi đã để xảy ra hiện tượng Phạm Công Thiện. Tôi nhớ rõ vì có ghi lại, hồi đó tôi đến gặp Thích Minh Châu, Viện Trưởng viện Đại học Vạn Hạnh để trình bày những thắc mắc của tôi liên quan đến bài viết của ông Phạm Công Thiện. Thượng Toạ cho biết chính Thượng Toạ là người đã đưa ông Thiện đang ở Paris làm beatnik, để tóc dài, cạo trọc đầu, khoác áo cà sa về Sài Gòn và cho ông dạy tại Vạn Hạnh. Thượng Toạ là người bao dung tỏ ra tôn trọng tuyệt đối tự do của người khác. Qua câu chuyện trao đổi, Thượng Toạ chỉ muốn tôi thông cảm với một hiện tượng như là “kết quả oan trái của thời cuộc loạn ly suốt hai mươi năm nay mà những thế hệ trẻ đã phải chịu đựng vì họ là nạn nhân”. Tôi cảm kích thái độ độ lượng của Viện trưởng và sẵn sàng thông cảm với hiện tượng Phạm Công Thiện mà dư luận giới cầm bút thời đó có người gọi là một quái thai, một đứa con hoang của văn học, và chịu đựng trong yên lặng. Những người cầm bút lúc ấy, đặc biệt những người mang danh Phật giáo, không có được tinh thần của Viện trưởng, vẫn tiếp tục khai thác, lợi dụng bài phê bình của Phạm Công Thiện, bày tỏ một thái độ thỏa mãn hả hê, như ông Trần Quang Phúc đã cho biết. Còn thái độ im lặng của tôi thì được những người sử dụng bài của Phạm Công Thiện coi như một thú nhận tội lỗi không thể chối cãi của kẻ bị cáo. Cũng trong thời gian đó, tôi nhận được thư của anh Tạ Trọng Hiệp, người bạn thân từ Paris đưa tin về Phạm công Thiện “Đầu mùa hè năm ngoái, tôi có gặp Thiện hai lần ở nhà Ái, một lần ăn cơm chung với vợ chồng Ái, một lần gặp nhanh vì hôm đó anh ta mặc áo nhà sư tiếp phái viên của báo Pháp. Nói chuyện thì thấy anh ta chẳng điên tí nào cả, rất nhã nhặn và vui vẻ bình thường như mọi người cùng lớp tuổi với chúng mình. Nhưng đó, riêng đối xử với tôi thì có lẽ vì tôi hoạt động ở một địa hạt không ăn vào cái mà Thiện nhận là địa hạt của Thiện, nên chẳng có gì đụng chạm. Gặp nhau cũng đã lâu rồi, tôi không nhớ là đã nói với nhau những gì, nhưng đến một lúc tôi lái câu chuyện qua văn học và sinh hoạt trí thức ở Sàigòn, kể nhẹ đến tên Trung thì thấy ngay anh ta đổ quạu. Có thể hiểu thái độ của Thiện cũng như thái độ của Bùi Giáng một phần là do sự ghen trí thức chăng? Một khi mình sẵn có vocation làm anh cả Maitre à penser tưởng dễ thành công vì trong tình trạng mù lòa của cái ao Việt Nam, một anh chột mắt cũng dễ thành công, thành danh không khó nhọc lắm, lại gặp phải một chướng ngại trí thức như Trung, có tài lý luận còn hơn anh ta nhiều, học vấn lại có căn để trong đại học chứ không phải là thứ chắp vá autodidacte, thì còn gì đáng ức cho bằng? Cho nên cũng giận lây cái đại học chính qui mà mình không lọt vào được và rất hoan nghênh cái đại học khác đã mở cửa cho mình vào, có gì là lạ? Lại có thêm yếu tố chính trị xen vào làm rối thêm bầu khí! Trung là trí thức nhưng Công giáo, vậy muốn hạ Trung cũng cần dựa vào lực lượng nào khác đang có sức chống lại khối Công giáo. Tôi nghĩ rằng đây cũng là một con đẻ điển hình của cái ao tù luộm thuộm Việt Nam; thời thế là vậy hẳn phải tạo ra những anh hùng như vậy. Trong xã hội ở cấp rất cao thiếu gì những anh lưu manh như vậy”. Lối nhìn người của anh Hiệp, về nội dung cũng không khác lối nhìn của Thích Minh Châu, vì sự ghen ghét bực bội cá nhân cũng bắt nguồn từ tình trạng loạn ly trong đó có những người được may mắn ăn học và những người không có cái may mắn đó. Duy có điều từ nhận xét khách quan của người ngoài đời, không thấy toát ra lòng bao dung độ lượng của người tu trì. Tuy nhiên thư của anh Hiệp cho tôi cảm nhận thêm phải thông cảm hơn số phận của những người cùng thời không được may mắn, mà nguyên nhân may hay không may đều do thời cuộc loạn ly. Ý nghĩ của tôi từ đó đến nay dừng lại ở điểm đổ lỗi cho thời cuộc mà không tự hỏi trong trường hợp cụ thể Phạm Công Thiện có liên hệ với tôi, tôi có trách nhiệm gì gây ra việc ông thay đổi thái độ trở thành người phản kháng chửi tôi, chửi đời, chửi người thực tình và dữ dội như vậy. Bây giờ đọc lại bài phê bình của ông Thiện, những bức thư ông gửi cho tôi, tôi mới nhận ra, quả thực, tôi có trách nhiệm nào đó. Các thư ông viết cho thấy rõ ông mong mỏi có chỗ đứng trong giới nghiên cứu giảng dạy đại học, mà tôi lúc đó hoàn toàn có khả năng đáp lại mong muốn chính đáng của ông. Chẳng hạn đăng bài biên khảo trên tạp chí Đại Học, ra sách ông viết trong nhà xuất bản Đại học, mời ông làm giảng viên Đại học Huế, diễn thuyết ở Huế, Đà Nẵng, Nha Trang trong khuôn khổ lịch trình sinh hoạt văn hóa Đại học Huế, và sau cùng vận động cho ông đi du học, không phải vì ông là người Công giáo như tôi đã làm cho vài người khác. Tóm lại ông đã gõ cửa tôi, có lẽ sau khi đã thử gõ nhiều nơi khác, nhưng tôi đã không mở cửa cho ông, và vì thế tôi đã đẩy ông vào tình trạng thất vọng, bất mãn. Ông Phạm Công Thiện hiện còn sống ở Úc. Nếu quả thực ông đã thất vọng vì cách đối xử của tôi hồi đó, thì tôi nhìn nhận có trách nhiệm về phần tôi và xin lỗi ông. Nói cho rõ hơn, ông Thiện oán giận bất mãn, những trí thức nói chung, thuộc giới đại học và trí thức Công giáo nói riêng, cụ thể như Nguyễn Văn Trung, Lê Thanh Minh Châu, Cao Văn Luận, là những người đồng đạo cùa ông ở Đại học Huế đã không tạo điểm tựa cho ông tiến thân. Sau 1963, trong tình hình mới, ông mượn danh nghĩa Phật giáo để bày tỏ công khai nỗi niềm bất mãn của ông, một người Công giáo, nhưng ông đã không cho dư luận biết như đã cho tôi biết. Tuy nhiên ông đã bày tỏ một cách quyết liệt, tàn nhẫn những bất mãn, uất ức cùa những người mang danh Phật giáo có cùng một tình cảnh tâm trạng với ông. Những bất mãn, uất ức này lần lần được bộc lộ qua Đại hội văn hóa Phật giáo sau 10 năm đảo chính 1/11/1963, và sau 1975 được nhắc lại trong các sách báo mang danh Phật giáo hải ngoại đặc biệt ở Hoa Kỳ. Trong các tài liệu in ronéo tường thuật Đại hội văn hoá Phật giáo, người đọc qua các phê phán tố cáo của những ông Lê Văn Siêu, Thạch Trung Giả, thấy nổi bật một khẳng định là có chèn ép khống chế Phật giáo trong văn hóa giáo dục, xuất phát từ những âm mưu, ý đồ đen tối nằm trong một hệ thống, có chương trình kế hoạch, có người điều khiển như Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền, Nguyễn Văn Trung, là những người Công giáo. Còn Nguyễn Nam Châu thì chỉ viết bài cho báo Đại Học rồi đi du học, chưa bao giờ giảng dạy ở bất cứ đại học nào. Dẫn chứng cụ thể được mang ra đả kích là cuốn Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh, trong chương trình giảng dạy tại Đại học văn khoa Sài Gòn, mặc dầu tác phẩm phê phán Phật giáo của nhà nho này do giáo sư Lê Ngọc Trụ vẫn giảng dạy từ nhiều năm tại Đại học, trước khi Thanh Lãng làm trưởng ban Việt văn. Những người am hiểu lề lối giảng dạy đại học đều biết chương trình giảng dạy thường do chính giáo sư phụ trách đề ra và được ban khoa thông qua mà thôi. Cụ Lê ngọc Trụ không phải người Công giáo, nhưng về cuối đời trước khi mất, sau 1975, đã theo đạo này một cách âm thầm kín đáo. Như vậy, Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh không thể dùng giảng dạy ở một Đại học mang danh Phật giáo và nếu những người mang danh Phật giáo như Thạch Trung Giả, Lê Văn Siêu có chân trong ban giảng huấn, điều hành ở đại học công như Đại học Văn khoa, chắc chắn cũng loại bỏ Nguyễn Cư Trinh và những tác giả khác như Nguyễn Đình Chiểu với tác phẩm đả kích Phật giáo như Dương Từ Hà Mậu. Tôi có thể nói gì ở tư thế một người bị cáo oan như vậy? Đành phải im lặng thôi. Tuy nhiên, tôi chịu đựng im lặng không phải trong tâm trạng bực tức, oán hận; trái lại, với thái độ không những thông cảm mà còn đau xót, chia sẻ nỗi niềm tủi nhục mà ông Trần Quang Phúc đã biểu lộ trước “không khí ảm đạm”, “tình cảnh bi đát” của Phật giáo vắng bóng trong các sinh hoạt văn hoá giáo dục trước 1963. Sở dĩ tôi có thể thông cảm, chia sẻ vì tôi hiểu được vấn đề, mà tiếng Pháp gọi là le fond de problème căn bản của vấn đề. Đó là tình trạng chậm tiến của Phật giáo trong khuôn khổ thế giới hiện đại. Bây giờ người ta thay thế từ ngữ “chậm tiến” để gọi là “đang phát triển”, tránh va chạm tự ái. Nhìn trong viễn tượng đang phát triển, việc so sánh được đánh mốc bằng khái niệm trước sau, chậm hơn, nhanh hơn mà nguyên nhân hoặc do yếu tố khách quan của hoàn cảnh hay yếu tố chủ quan nội bộ quyết định. Ở đây về mặt tôn giáo, có thể so sánh tình trạng phát triển sớm hơn hay muộn hơn của Phật giáo so với Công giáo, của Cao Đài Hòa Hảo so với Phật giáo trong một thời điểm nhất định, hoặc so sánh tình hình nội bộ của một tôn giáo với nhau chẳng hạn so sánh Công giáo miền Nam với Công giáo miền Bắc, so sánh Phật giáo miền Nam với Phật giáo miền Bắc, như những người ở miền Nam đã cảm nhận sau 1975. Công giáo miền Nam đã so sánh tình trạng gọi là Tiền Công đồng Vatican II của Công giáo miền Bắc với tình trạng gọi là Hậu Công đồng của Công giáo miền Nam, chênh lệch đến nỗi một giám mục miền Nam đã nhận xét một cách đau xót một nữ tu miền Nam có trình độ nhận thức nói chung và nhận thức thần học hơn một giám mục miền Bắc. Còn về Phật giáo, đọc bài luận về Thống nhất Phật giáo của ông Đỗ Trung Hiếu, có nhiều chỗ so sánh đáng chú ý “… hầu hết chùa, nhà thờ ở miền Bắc mà tôi đến thăm đều rêu phong tàn tạ, các nhà sư sư ông, sư bà lẩm cẩm sợ sệt, một bái các cụ, hai bái các cụ. Các linh mục, giám mục đóng kín cửa lạc hậu với thời cuộc. Phật tử gần như không còn gì nữa, chỉ ẩn hiện dưới dạng mê tín, cúng bái linh tinh và rất e dè trước khách lạ. Tín đồ Thiên Chúa giáo thì khổ cực hằn sâu trong mắt họ. Những nét u uất thâm nghiêm nhưng rực lửa và sẵn sàng bốc cháy khi có mồi. Đó là mối nguy hại chứ không phải sự thành công của tôn giáo vận. Cán bộ tôn giáo vận ở trung ương và các tỉnh miền Bắc văn hóa thấp kém, chính trị non nớt, nghiệp vụ chuyên môn giáo điều cũ kỹ và tổ chức bộ máy tôn giáo vận xộc xệch quê mùa. Như vậy làm sao đối ứng nổi với bộ máy hiện đại của các tôn giáo ở miền Nam. Cho nên rốt cuộc chỉ áp dụng “chuyên chính về vô sản”. Trọng tâm thống nhất Phật giáo Việt Nam là miền Nam Việt Nam mà trọng điểm là thành phố Hồ Chí Minh. Tổ chức Phật giáo cần quan tâm là GHPGVNTN, vì đây là tổ chức Phật giáo lớn nhất, tăng ni có trình độ, lực lượng Phật tử có tổ chức đông đảo và có uy tín quốc tế. “…cụ thể, các đồng chí cứ kiểm tra, ngay tại chùa Quán Sứ, các nhà sư răm rắp nghe và làm theo ban tôn giáo chính phủ chỉ đạo. Nhưng khi họ đóng cửa lại, họ đọc sách gì? Có phải là Lục tổ Huệ Năng và bộ Tâm Ảnh Lục của Trí Quang, Đạo Phật hiện đại hoá, Đạo Phật ngày nay của Nhất Hạnh. Chắc có người sẽ bảo họ đọc vì tò mò, vì hiếu kỳ. Không. Tôi biết rõ họ đọc với sự say sưa, với cả tấm lòng, vì chính sự thu hút của tác phẩm đó, và vì bao nhiêu năm họ bị bưng bít không có sách gì để đọc”. Về Công giáo, trước Thế chiến II, đã có một số thanh niên, chủng sinh du học Âu châu, Pháp. Sau 45, họ trở về nước, trong đó có những người được biết đến nhiều, như linh mục Cao Văn Luận, Viện Trưởng Đại học Huế, Nguyễn Văn Lập, Viện Trưởng Đại học Đà Lạt, Lê văn Lý trưởng ban ngôn ngữ Đại học Văn khoa Sài Gòn. Từ 1945 đến 1950, nhiều đợt thanh niên, chủng sinh từ miền Bắc được gửi đi du học ở Âu châu và Hoa kỳ. Năm 1954, do tình hình chia cách lúc đó, chỉ có hai người về Bắc theo đề nghị của Giám mục Hà Nội, còn lần lượt trở vô Nam và hầu hết định cư tại vùng Sàigòn Gia Định. Bỗng nhiên vùng này có một đội ngũ trí thức linh mục dòng triều, giáo dân đông đảo có bằng cấp đại học đạo đời. Họ dạy ở các học viện của dòng hay tại chủng viện, hoặc có mặt ở các đại học công, viện chuyên môn vì những nơi đó cần người chuyên môn, tốt nghiệp đại học ngoại quốc. Không phải chỉ về tôn giáo, triết học, khoa học xã hội như Lê Tôn Nghiêm có luận án tiến sĩ về đạo Lão, Trần Thái Đỉnh về đạo Phật, Hoành Sĩ Quí về Ấn độ giáo nguyên ban triết ở Đại học Văn khoa Sài Gòn có lúc có đến 9 ông tiến sĩ triết học. Về môn Ngữ học, có ba người Lê Văn Lý, Nguyễn Hưng, Phạm Hữu Lai, mà cả về Khoa học Tự nhiên như Hoàng Quốc Trương, về Sinh vật ở Hoa kỳ dạy Đại học Khoa học, hay Linh mục Quí tốt nghiệp Hoa kỳ chuyên gia ở viện Pasteur… Một số đáng kể người Công giáo linh mục, giáo dân ở trong các trường, cơ sở công lập có thể làm cho người ngoài có cảm tưởng về một chính sách kỳ thị, ưu đãi của chính phủ mang danh Công giáo, đặc biệt thời ông Diệm. Họ có mặt ở các trường đại học công vì nhu cầu và được mời. Ngay cả sau 75, có chỉ thị của thủ tướng không nhận các tu sĩ Công giáo, Phật giáo làm việc ở các đại học công, Đại học Khoa học Sài Gòn vẫn giữ linh mục Hoàng Quốc Trương ở lại trường cho đến khi ông về hưu. Ảnh hưởng của các giáo sư Công giáo, nếu có không phải do dựa vào thế lực tôn giáo, mà chỉ vì khả năng chuyên môn, nhất là vì tư cách trí thức của họ mà thôi. Dư luận sinh viên rất bén nhạy về những độc quyền, kỳ thị. Quả thực đã có những biểu lộ phàn nàn, phản đối ở ngoài đại học, nhưng theo chỗ tôi biết tuyệt nhiên không có đổi với các người Công giáo làm việc ở các đại học công. Sự thực lại có dư luận hẹp hòi trong dư luận Công giáo phiền trách thái độ phê phán của các giáo sư Công giáo và nhiều người bị cấm dạy ở các đại học công như Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm bị Tổng Giám mục Ngô Đình Thục không cho dạy ở Đại học Huế. Còn về tổ chức, Đại học Đà Lạt chỉ mang danh nghĩa Công giáo, nội dung chuyên môn giảng dạy, ban giảng huấn đều y hệt đại học công, gồm các giáo sư đại học công, bất kể họ thuộc tôn giáo nào hay không theo tôn giáo nào. Có đoàn sinh viên Công giáo và cả đoàn sinh viên Phật tử. Đặc biệt thời linh mục Nguyễn Văn Lập làm Viện Trưởng, trường giúp đỡ đoàn sinh viên Phật tử kể cả những hoạt động tranh đấu của họ. Đại học Đà Lạt không phải chỉ cởi mở đối với Phật giáo mà cả với miền Bắc. Theo giáo sư Phó Bá Long, Khoa Trưởng Cao học Chính trị Kinh doanh Đà Lạt, một giáo sư người Mỹ giảng về di chúc Hồ Chí Minh. Đài Hà nội loan tin có một đại học ở miền Nam giảng về di chúc Bác Hồ. Ông Đỗ Bá Khê, Thứ Trưởng Bộ Giáo dục mời ông Phó Bá Long cho biết nội vụ và được giải thích đây là tinh thần tự do của tự trị đại học mà thôi. Ngoài ra, ngay từ hồi 1955, các tiểu chủng viện đều dạy theo chương trình trung học công lập hoặc ở chủng viện hoặc ra học trường trung học ngoài đời lấy Tú tài. Sau đó một số được cho tiếp tục học đại học. Đối với Phật giáo, quả thực có sự vắng mặt những nhà sư, trí thức Phật tử tốt nghiệp đại học, du học về. Ở các trường đại học, thời đệ nhất Cộng hòa, các Bộ Trưởng Giáo Dục, Viện Trưởng, Khoa Trưởng thời kỳ này thường không theo đạo nào và cũng như những giáo sư người Công giáo, tất cả hầu hết đều xuất thân từ đại học Pháp, chịu ảnh hưởng tâm tình tự do, đời, chống giáo sĩ trị libérale, laique, anticléricale nên không thể có thái độ ưu đãi kỳ thị về tuyển chọn nhân viên giảng huấn. Nếu tôi nhớ không lầm, phải đến sau 1963 mới có mấy Thượng toạ Đại đức đi du học ở Nhật, Ấn độ về, và chỉ chuyên về Phật học. Giả sử hồi 1956-1957, các Thượng toạ Minh Châu, Nhất Hạnh đã về nước, thì có thể đã được ông Cẩn đề nghị làm Viện Trưởng Đại Học Huế. Dưới mắt gia đình họ Ngô, việc thành lập Đại Học Huế mang một ý nghĩa chính trị củng cố, giữ vững Huế như một tiền đồn của miền Nam có nhiều người theo đạo Phật. Vậy tiến cử những vị trí thức Phật tử tu sĩ gốc miền Trung vào vai trò lãnh đạo đại học là điều hợp tình hợp lý. Còn nếu có dư luận cho mấy nhà sư này là thiên cộng hay cộng sản thì lại càng đáp ứng đường lối gọi là chuyển hướng những người kháng chiến cũ của ông Nhu ông Cẩn. Không có ông sư phải dùng ông cha, và ai nấy đều biết linh mục Cao Văn Luận cũng chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp kể trên, không thể thiên vị, kỳ thị. Chả nhẽ trách Bảo Đại và các chính phủ của ông ta vì dụ số 10 không lo gửi người theo đạo Phật đi du học? Tôi nghĩ chế độ ông Diệm có trách nhiệm phần nào đã không lưu tâm vấn đề đào tạo giới trí thức Phật tử trong chính sách đối với Phật giáo của chính phủ vì chỉ chuyên chú vào vụ giúp đỡ tiền bạc, tu sửa, xây cất chùa chiền. Ông Nhu đã thấy vấn đề hồi xảy ra vụ khủng hoảng Phật giáo 1963, chính phủ ông Diệm đã đề nghị Liên Hiệp Quốc gửi phái đoàn sang điều tra xem Vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, bản báo cáo của phái đoàn Liên Hiệp Quốc điều tra về vụ đàn áp Phật giáo 1963, cư sĩ Võ Đình Cường dịch. Hương Khánh xuất bản, 1964. Trong cuộc hội kiến với trưởng phái đoàn, ông Ngô Đình Nhu đã đưa người đối thoại với mình vượt khỏi những sự kiện cụ thể đang diễn ra, đi vào một lối nhìn xa trông rộng về tôn giáo như một lãnh đạo đảng cộng sản đã nhận xét về phương diện chính trị, quân sự. Đó là một lối nhìn xã hội học về tôn giáo. Theo ông Nhu, căn bản là vấn đề chậm tiến của các quốc gia được độc lập như Việt Nam và có những đòi hỏi về phát triển các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo và “Phật giáo chỉ là một khía cạnh của vấn đề chung kể trên”. Phong trào Phật giáo phát triển mạnh nhưng cán bộ lại không đủ, do đó có những sai lệch không thể tránh khỏi được. Bản thân đạo Phật ở Việt Nam có những sắc thái riêng, chẳng hạn tinh thần tự trị của chùa chiền ẩn sâu trong dân chúng. Mỗi ngôi chùa là một giáo đường riêng biệt do một vị trụ trì và đạo hữu tạo thành một cộng đồng độc lập. Phật giáo mang màu sắc cá nhân đậm nét vì đòi hỏi con đường tu trì chủ yếu là việc riêng của mỗi người, nên nhu cầu tập họp thống nhất, đương nhiên gặp khó khăn. Đạo Phật lại chủ trương bất bạo động, vậy làm thế nào để thực hiện đòi hỏi tranh đấu chống thực dân, bất công xã hội khó tránh không dùng bạo lực? Phật giáo gặp những khó khăn riêng biệt, cần tập họp, tổ chức thành phong trào, lực lượng chính trị để phát triển. Nhưng trở thành một lực lượng chính trị lại có nguy cơ không còn là Phật giáo. Phật giáo gặp khó khăn nội bộ lại thấy những tôn giáo khác phát triển mạnh hơn, dễ đưa đến suy luận Phật giáo bị kỳ thị đàn áp… Cuối buổi hội kiến, ông Nhu thú nhận “có rất nhiều thiện cảm với Phật giáo. Những kỷ niệm đẹp nhất thời thơ ấu là kỷ niệm Phật giáo”. Về tình cảm thì như thế, về chính trị ông đã ý thức được nguy cơ bất ổn của phong trào Phật giáo, dễ bị Đông Tây lợi dụng. Có lẽ ông hiểu Đông là Cộng sản và Tây là Tây phương vì thiếu cán bộ có tài đức thực sự. Có thể chất vấn ông Nhu, tại sao trong thời gian cầm quyền, ông không lưu tâm đến việc góp phần đào tạo một đội ngũ cán bộ Phật giáo có tài đức? Sau 1963, người Mỹ đã tỏ ra đặc biệt lưu tâm đến nhu cầu đào tạo giới trí thức Phật giáo có trình độ đại học để lãnh đạo các mặt đạo đời. Trong một báo cáo 10 trang của một phụ tá đại diện Asia Foundation, ông Frank E. Dines ở Sài Gòn gửi giám đốc phân bộ Đông Nam Á của hội này về “chương trình Phật giáo ở Việt Nam”, cho thấy “Phật giáo đã đảm nhận một vai trò xã hội chính trị có thể biến Phật giáo thành một lực lượng có ưu thế trong xả hội trong vòng một vài năm”. Trong khung cảnh đó, đại học Vạn Hạnh “có tính chất quan trọng sinh tử vì mục đích của nó là huấn luyện giới lãnh đạo tương lai của Phật giáo. “Tất cả các dự án về Phật giáo của quĩ Tài trợ cuối cùng đều hướng tới hai mục đích rành mạch 1 huấn luyện một giới lãnh đạo có học thức, đặc biệt chú trọng những chương trình như cấp học bổng qua Hoa kỳ, việc này cho phép quĩ Tài trợ có thể điều hòa được kinh nghiệm với môi trường chung quanh và 2 khuyến khích sự phát triển các công tác xã hội, hoạt động xã hội của Phật giáo theo những đường hướng vững chắc về chuyên môn. “Theo quan điểm của quĩ Tài trợ thì sự quan tâm mới đây của giới tăng lữ với giáo dục và việc họ sẵn sàng giao cho quĩ Tài trợ những tăng ni trẻ tuổi khá nhất của họ để huấn luyện ở nước ngoài là một cơ hội tuyệt vời để giúp khuôn nắn giới lãnh đạo tương lai. “Cả giới Phật giáo lẫn quĩ Tài trợ đều đã tiến chậm trong việc triển khai một chương trình học bổng du học nước ngoài vì những lý do khác nhau.. “Mối quan tâm chính yếu của chúng ta là ở tiềm năng giới lãnh đạo. Chúng ta đã nhấn mạnh vào những ngành học không có tính cách tôn giáo ở Hoa kỳ vì đây là cách chắc chắn nhất để có được các ứng viên đã tốt nghiệp đại học, có thể được đào tạo trong vòng hai ba năm. “Trong số 20 000 tăng ni ở Việt Nam, chưa đầy 20 người học ở nước ngoài kể cả 12 người đang du học trong đó có 4 người ở Hoa kỳ và không hơn 30 người đậu cấp bằng cử nhân ở Việt Nam… “Chúng ta biết rằng những tăng ni này được nhắm cho những vị trí lãnh đạo. Công cuộc huấn luyện và kinh nghiệm của họ ở Hoa kỳ, tới một mức nào đó, sẽ ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến các mô hình những người lãnh đạo mà họ sẽ trở thành. Chỉ trong một thời gian tương đối ngắn họ sẽ trở về những vị trí quan trọng ở Viện Hóa Đạo, Đại học Vạn Hạnh và nhiều chùa khác nhau. Họ sẽ trở thành những người diễn giả chính yếu của Hoa kỳ và chính sách của Hoa kỳ cho Phật giáo”. Sau 1975, do việc ra đi đông đảo của người Việt định cư ở các nước ngoài, đặc biệt ở Hoa Kỳ đã có nhiều người trẻ tuổi gốc Phật giáo được đào tạo không những về Phật giáo mà cả về các khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và 20 năm sau, 1994-1995, tôi sang Mỹ, được tiếp xúc với khoảng gần 20 trí thức Phật giáo tại nhà một luật sư ở San José. Họ đề nghị tôi nói chuyện và trao đổi thân tình. Tôi cảm thấy hãnh diện về giới trí thức trẻ Phật giáo này. Qua trao đổi tâm tình, một vài người đã thổ lộ họ thấy gần gũi với những linh mục, trí thức Công giáo cũng tốt nghiệp đại học như họ, hơn những người đồng đạo không qua bậc đại học. Như vậy vấn đề là ở chỗ cùng tiến đồng đều như nhau, tự nhiên sẽ không còn những mặc cảm tự tôn tự ti, những bộc lộ bất mãn, oán ghét, những tố cáo này nọ… Tuy nhiên, nhìn lại thời kỳ 20 năm trước 1975, tôi thấy có trách nhiệm phần nào gây ra những đả kích mạt sát của một số người mang danh Phật giáo đối với tôi, vì tôi đã chỉ nghĩ đến viết cái gì mà không chú ý đến người viết đối với người nghe là thế nào. Trong thực tế nhiều khi nói cái gì không quan trọng bằng ai nói, ai nghe và chính quan hệ người viết, người đọc quyết định ý nghĩa điều nói viết ra. Tôi viết về Phật giáo, coi Phật giáo là một triết học như những triết học khác trong lịch sử tư tưởng nhân loại, và nghĩ rằng tôi có quyền tự do nhận định, hiểu theo ý tôi, đúng hay sai, người đọc cũng có quyền tự do phê bình trên bình diện tư tưởng. Trong khi người đọc lại không tách rời triết học khỏi Phật giáo như một tôn giáo và thậm chí còn coi người không tin đạo Phật không thể hiểu được Phật giáo, và như vậy chỉ có thể là hiểu sai. Nếu người viết về Phật giáo là Công giáo Việt Nam càng không thể được tách rời khỏi cái nhìn đầy thiên kiến, mặc cảm và oán hận đối với người Công giáo, và do đó chỉ có thể có ý đồ, âm mưu xuyên tạc, tiêu diệt Phật giáo. Thực ra không phải đợi đến những năm 94-95 gặp đông đảo trí thức trẻ theo Phật giáo tốt nghiệp đại học về Phật học và các Khoa học xã hội khác ở Hoa kỳ, tôi mới tìm thấy những bạn Phật tử đồng hội đồng thuyền, mà ngay từ hồi những năm 1958- 59, ở Huế, tôi đã gặp một số trí thức trẻ là sinh viên cùa tôi; nhưng chúng tôi xuýt xoát tuổi nhau nên gọi nhau là anh chị, thường trao đổi tâm tình với nhau về triết học, văn học, Phật học trong tình thân quí mến tôn trọng lẫn nhau. Tôi chỉ kể tên hai người mà giới giáo chức Huế đều biết anh Văn Đình Hy và chị Tinh Nhân, cả hai anh chị sau đều có lúc làm hiệu trưởng trường Quốc Học, Đồng Khánh, hiện đã qua đời. Hoặc một vài bạn trẻ ở Sài Gòn hiện còn sống, thường kể cho tôi nghe những sai trái, thậm chí những tội ác mà một số Cha Cố đã phạm từ thời Bùi Chu, Phát Diệm đối với Phật giáo và đã sẵn sàng ghi lại cho tôi làm tài liệu. Nhưng khi ở Hoa kỳ về, tôi đưa cho họ coi những sách báo mạt sát thậm tệ Công giáo ở hải ngoại, ngày hôm sau, họ đem trả lại và trách tôi tại sao đọc, còn đưa cho họ đọc sách báo đó, và từ chối luôn đề nghị của tôi nhờ ghi lại những chứng từ. Tôi đã nói nhiều lần, đây đó, đề nghị Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cần lên tiếng nhận lãnh trách nhiệm về phần mình những sai trái, xúc phạm trong lịch sử đối với đồng bào không Công giáo, đặc biệt đối với Phật giáo, nhất là thời ông Diệm để gỡ oan cho chế độ này mang tiếng kỳ thị, đàn áp Phật giáo. Chính Thượng Toạ Trí Quang cũng khẳng định với tôi, các ông Nhu Cẩn không liên hệ đến vụ này, chỉ ông Thục mà thôi. Cuối cùng gần đây, tôi nghĩ phải nhìn một cách triệt để cái “cốt lõi, căn bản của vấn đề Phật giáo” không phải chỉ là đòi hỏi thích nghi với đời sống hiện đại, gọi là “hiện đại hóa Phật giáo”, theo kịp đà phát triển của các tôn giáo khác, mà chủ yếu là cần nhìn nhận đâu là bản sắc của Phật giáo. Phát huy bản sắc đó có nhất thiết phải so sánh với các tôn giáo khác để nhận ra chỗ mạnh chỗ yếu, sở trường sở đoản của tôn giáo mình và tôn giáo bạn rồi hướng những nỗ lực hiện đại hóa vào mục tiêu khắc phục những cái bị coi là chỗ yếu, sở đoản. Chẳng hạn về tổ chức thành lập giáo hội, thực hiện thống nhất, sử dụng những thống kê người theo đạo dựa vào những con số. Ở Việt Nam chỉ có hai hạng người có căn cước rõ ràng người Thiên Chúa giáo và đảng viên đảng Cộng sản; một người có giấy rửa tội, một người có thẻ đảng. Còn đa số, trừ một số ít Phật tử qui y, không thể xác định bằng thống kê, bằng con số chính xác tôn giáo họ theo. Có thể chỉ là đạo ông bà, hoặc thêm Tam giáo, hay theo đạo Phật nhưng chỉ đi chùa khi muốn đi, hoặc theo một lúc nào đó, ở thời điểm nào đó trong cuộc đời của mình. Như vậy làm sao có thể lập danh sách thống kê người theo đạo như bên Thiên Chúa giáo thường làm hàng năm và gửi về Rome? Vậy phải chăng mặc cảm tự tôn tự ti phát xuất từ khi những người mang danh Phật giáo bắt chước người Thiên Chúa giáo sử dụng những con số làm thống kê không dựa trên những tiêu chuẩn rõ rệt mà chỉ dựa vào tính trừ những người theo Thiên Chúa giáo biết rõ đích xác là thiểu số, vậy phần còn lại là đa số theo Phật giáo! Điều trớ trêu là trong Thiên Chúa giáo từ mấy chục năm nay đã có hướng coi cái “sở trường, thế mạnh” của mình là mối đe doạ trầm trọng và chủ trương cái mà người Phật giáo coi là sở đoản, bằng cách xóa bỏ tổ chức hoặc giảm thiểu tối đa nhu cầu về tổ chức. Như vậy tại sao người Phật giáo lại chạy theo cái mà những người Thiên Chúa giáo đang muốn từ bỏ? Nguyễn Văn Trung Văn bản do nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Vy Khanh đánh máy theo bản viết tay của tác giả và gửi cho Văn Việt. Bài cũng đã đăng ngày 04/09/2007, trang web Thông Luận. Comments are closed.

nhìn lại chặng đường dài mà mình đã qua